Để xem tranh, có cần phải học ? (*)

bởi Mậu Lâm vào ngày 22 tháng 6 2012 lúc 11:38 chiều ·

Trước tranh, mọi người, đa số giữ thái độ “kính nhi viễn chi”. Thường, ít khi dám có ý kiến bình phẩm. Không chỉ với các loại tranh “bí hiểm” như Lập thể, Siêu thực, Trừu tượng…. mà ngay cả với những loại tranh “biểu hình” như Ấn tượng, Biểu tượng, Tượng trưng… thậm chí cả với tranh tả thực. Trong giới họa sĩ vẫn kháo nhau câu chuyện: có người nhận xét tranh bạn: “trông kinh đấy!”, anh họa sĩ vặn lại “kinh là sao?”. Có nghĩa là đẹp, hay xấu…. hay sao? Người kia giải thích bằng… cười!

 

 

Tại sao? Tại đa số thực sự “mù” trước tranh, chỉ thấy “lờ mờ” bên ngoài mà không thấy nổi “bên trong”? hay đơn giản chỉ vì không biết phương pháp diễn dịch không đủ chữ nghĩa để phát biểu?

 

Có người cho rằng chuyện “mù” là phổ biến với lý lẽ: học chữ phải bắt đầu từ A, B, C, muốn cảm thụ hội họa tốt phải được giáo dục về hội họa. Ở Việt Nam, cho đến nay, công việc này gần như chưa có gì…

 

Có người lại cho rằng, đối với nghệ thuật, cho dù có “thiên kinh vạn quyển” cũng chưa chắc đã hết “mù”. Nhiều khi lại “mù” hơn nữa. Những điều mà người ta vẫn nói huyên thuyên về tác phẩm này, tác phẩm nọ, lắm lúc chỉ là những ảo tưởng do kiến thức mang lại hơn là do cảm thụ tự thân, chưa chắc đã có xúc cảm nghệ thuật…

 

Mâu thuẫn trên là có thật. Nhiều, rất nhiều người có học thức hẳn hoi, thuộc làu lịch sử mỹ thuật thế giới, nhớ tên tác phẩm tiêu biểu của từng họa sĩ, nhưng khi trực diện tác phẩm, nhiều khi chỉ biết im lặng, thậm chí dửng dưng. Ngược lại, có người học vấn chẳng là bao, nhưng trước vài ba tác phẩm đã có được những phát hiện tinh tế đến bất ngờ…

 

Thực tế đó, rõ ràng, buộc phải đặt lại câu hỏi, học để xem tranh là học những gì? và học như thế nào? Bất cứ ai thiết tha cầu học, và học thực sự, học trong ý thức thường xuyên tự phủ định (biết hoài nghi) có lẽ, dù sáng tỏ hoặc mơ hồ cảm nhận học để biết, học để hiểu và học, như sự tích tụ năng lượng cho sự sáng tạo là những cấp độ hoàn toàn khác nhau. Gần như hầu hết các nhà tâm lý nghệ thuật đều cho rằng cảm thụ nghệ thuật cũng là hình thái khác của sáng tạo nghệ thuật. Cái “vốn” của cảm thụ với sáng tạo như nhau. Khác, chỉ tùy vào khả năng có thể biểu đạt – nghệ thuật là hình thức – đây là chuyện “trời cho”.

 

Trong cái “chân lý” mà các nhà tâm lý nghệ thuật khẳng định vừa nêu, bật lên vài vấn đề – Những vấn đề cũ, rất cũ, nhưng cần phải nhắc lại – đó là, bản chất của nghệ thuật là gì?, qui luật ‘tiến hóa” của nghệ thuật là thế nào?

 

Xuyên suốt lịch sử tư tưởng và nghệ thuật của nhân loại đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về các vấn đề này. Có ý kiến của Aristote, có ý kiến của Kant, có ý kiến Hegel… và của rất nhiều người khác nữa – ở những xã hội lấy kỷ luật làm nền tảng hay ở những xã hội lấy tự do cá nhân làm nền tảng. Bất cứ ai am hiểu lịch sử nghệ thuật thế giới đều có thể thấy rằng, đã từng có một thời, giá trị nghệ thuật là sự hoàn thiện theo những qui luật giao ước. (chủ nghĩa Cổ điển hay Tân cổ điển – nghệ thuật kinh viện phương Tây nói chung) và, ở thời hiện đại, là cái mới, là sự độc đáo mang dấu ấn cá nhân. Tuy nhiên, cho dù như thế nào, còn lại ở mỗi người – bất kể nghệ thuật thời nào – vẫn là ở góc độ chủ quan hóa, người ta có nhận thấy được trong đó một mảnh tâm hồn, một góc thân phận mình hay không? Còn ở góc độ khách quan hóa, có thể thấy trong đó những sự thật tâm hồn nhân loại, những sự thật trong một khoảnh khắc hiện hữu của con người hay không ?

 

Tất cả những điều vừa nêu, buộc lòng phải nâng cấp độ nhận thức. Rằng, yếu tính của nghệ thuật, cái quyết định nghệ thuật là nghệ thuật – là gì ?

 

Nhiều triết gia của thời hiện đại từ Nietzsche, Jean-Paul Sartre, Heidegger… và cả các nhà tâm phân học miền sâu như Jung v.v… đã cất công tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi này. Họ đồng tình: Sáng tạo – nghệ thuật hay khoa học – không gì khác hơn là “sự giao lưu giữa tính nội tại và ước mơ của con người”. Có thể diễn giải ý tưởng này một cách dung dị: “Nghệ thuật là tình ý sống tự nhiên của con người được cất thành lời”… “Phát hiện” đó là phát hiện sự thống nhất của chân – thiện – mỹ – căn cơ của nghệ thuật.

 

Không phải ngẫu nhiên mà đánh giá một nghệ sĩ, người ta đã căn cứ trên sự chân thành và nhạy cảm – sự nhạy cảm mang lại cái mới, sự độc đáo ở cả hai chiều: cái được biểu hiện và cái để biểu hiện.

 

Đến đây thì vấn đề rõ ràng đã trở về với gốc rễ – chỗ như nhau giữa người cảm thụ và người sáng tạo – là bản thể con người là chuyện nhân cách. Khi nghệ thuật là sự biểu xuất các khía cạnh bản thể con người, là sự thể hiện nhân cách (tất nhiên gắn liền với một bối cảnh, hoàn cảnh) nhưng không tạo nên được sự cảm thông, đồng cảm… thì điều đó đã phản ánh khá trọn vẹn sự đứt đoạn trong một nền văn hóa, sự gián cách trong các ý thức khác nhau về hiện hữu…

 

Một bộ phận lớn trong nền mỹ thuật Việt Nam không được thông hiểu, thông cảm. Phải chăng bởi người thưởng ngoạn mỹ thuật Việt Nam không được tiếp cận sớm, nhiều, không được giáo dục về mỹ thuật đến nơi đến chốn? Đó chính là điều đáng ngờ. Cần suy nghĩ từ hiện tượng – có bao nhiêu là “thần đồng” nghệ thuật, sau khi được dạy dỗ, được chăm chút đào tạo, chẳng hiểu sao mất hút?!

 

Hãy nhìn lại nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại và thử nhìn nó trên nền văn hóa Việt Nam xuyên qua lịch sử thế kỷ 20. Những ông thầy người Pháp đã có công khai mở cho người Việt Nam một cái nhìn phân tích không gian trước mắt, đã gợi mở cho người Việt Nam sự nắm bắt các ấn tượng về thế giới, về cuộc sống. Sự “kỳ vĩ” của các họa sĩ Việt Nam thời trường mỹ thuật Đông Dương là đã tiếp thu thành công một cách nhanh chóng cách nhìn và cách thể hiện này để biểu đạt chính mình – ở một cảm thức lãng mạn hay hiện thực. Công chúng nghệ thuật lúc ấy, đã đồng hành với người sáng tác. Không phải ngẫu nhiên mà chỉ sau một khoảng thời gian ngắn sau khi các họa sĩ Việt Nam có vài thành tựu, người Việt Nam đã có ngay một nhà sưu tập Đức Minh; và không chỉ duy nhất một nhà sưu tập Đức Minh.

 

 

Văn hóa xã hội phát triển theo cơ cấu kinh tế – chính trị. Thượng tầng kiến trúc được quyết định bởi hạ tầng với “cát bụi”. Có một thực tế cần phải thẳng thắn thừa nhận, là trong rất nhiều chục năm qua, cái hạ tầng cơ sở Việt Nam tiến triển rất chậm chạp. Trong khi đó, bao nhiêu lượng thông tin – chính thức hay không chính thức – tràn về, được những người có học, trong đó cả giới nghệ sĩ, tiếp thu. Có những người, qua đó mà biết rõ chính mình, nung nấu mình cắm chặt vào gốc rể cộng đồng, nhưng cũng có không ít người, bổng dưng cảm thấy cô đơn giữa cộng đồng, và một cách tự nhiên, tách mình thoát ly vào một cuộc phiêu lưu vô định…

 

Một số lớn các họa sĩ Việt Nam đã không ngừng dấn thân thể nghiệm trong các khuynh hướng, các trường phái… được cho là hiện đại nhất – với những mối bận tâm ngày càng thu lại trong cái tôi cách biệt. Khoảng cách ngày càng xa Không hiểu họ hấp thụ năng lượng ở đâu để nuôi dưỡ́ng cảm hứng sáng tạo, nuôi dưỡ́ng nghệ thuật của mình?

 

Nghệ thuật biểu hiện tình ý sống tự nhiên của con người. Sự hồn nhiên trong nghệ thuật với niềm vui, nỗi buồn, khổ đau và hạnh phúc chân thật mang lại cái mới và sự hòa đồng-Người sáng tạo và người cảm thụ gần nhau. Những định kiến chi phối nghệ thuật chỉ làm cho mỗi người trở nên “cận thị”, “viễn thị”, hay “loạn thị” Bởi vậy, sự nhìn, sự thấy sẽ khác nhau xa vời.

 

Học để xem tranh, ở khía cạnh nào đó, cũng như học để vẽ tranh – học nhen nhóm lại những ngọn lửa hồn nhiên trong chính tâm hồn mình…

 

 

 

 

Nguyên Hưng

(*)Đã in trong sách: Họa sĩ, kẻ sáng tạo nên mình-NXB Mỹ thuật, 2002

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s