Thị trường mỹ thuật Việt Nam-chờ một mùa bội thu?

bởi Nguyên Hưng vào ngày 19 tháng 5 2012 lúc 12:55 chiều ·

Trước câu hỏi ”thị trường mỹ thuật Việt Nam hiện nay ra sao rồi?”, câu trả lời từ các chủ gallery trong nước thường chỉ là những tiếng thở dài…

 

Tranh Thành Chương

 

 

Thị trường mỹ thuật Việt Nam đã từng có một thời sôi động. Bùng nổ từ khoảng 1990, kéo dài năm bảy năm liền, thị trường mỹ thuật hoạt động hết sức rộn ràng. Các cuộc triển lãm diễn ra liên tục. Ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, tháng nào cũng vậy, cứ cách vài ba ngày là có một cuộc triển lãm khai mạc. số lượng hội viên Hội Mỹ thuật tăng nhanh đáng kể và hầu như ai vẽ đều bán được tranh.Một số họa sĩ có giá tranh tăng vọt. Nhiều họa sĩ giàu lên nhanh chóng. Trong tâm lý xã hội, hình ảnh họa sĩ nghèo “hy sinh vì nghệ thuật” không còn lãng mạn, quyến rũ nữa (nếu còn, thì chỉ còn như những huyền thoại, được sử dụng cho các mục đích tiếp thị). Nổi lên, là những họa sĩ mà “Tây nó thích!”. Thông tin về thị trường mỹ thuật trên các mặt báo luôn luôn tỏ dấu hiệu phấn khởi, lạc quan. Nhiều gallery mới xuất hiện. Ý niệm chuyên nghiệp hóa hoạt động gallery được đặt ra như một nhu cầu bức thiết cho sự hòa nhập vào thị trường mỹ thuật thế giới v.v…

 

Tuy nhiên, đó chỉ là một thời đã qua. Trong vòng ba bốn năm trở lại đây, không khí hoạt động trên thị trường mỹ thuật mỗi ngày một chùng xuống. Các cuộc triển lãm mỹ thuật ngày một thưa thớt dần. Đến bây giờ, các họa sĩ vẫn nói với nhau rằng, nghĩ đến triển lãm cá nhân, chỉ còn các “tay chơi”, hoặc các họa sĩ chuyên vẽ “tranh thương mại”. Nhiều họa sĩ hăng hái một thời bổng dưng biến mất. Một số gallery phải đóng cửa (A&T gallery, Saigon gallery, Bắc gallery v.v…). Ý hướng chuyên nghiệp hóa hoạt động gallery cũng bốc hơi từ hồi nào, không còn thấy ai nhắc đến. Số còn lại, phần lớn im lặng “bán buôn đủ thứ”-tranh trang trí, tranh souvernir, hàng thủ công mỹ nghệ, đồ giả cổ v.v… Một vài gallery tìm thế tồn tại bằng cách “bí mật” liên kết với các gallery nước ngoài, nhưng cũng chỉ lẩn quẩn với những “commercial painting” (tranh vẽ hàng loạt), không vươn lên được tầm kinh doanh nghệ thuật thực sự. Tranh của các “họa sĩ bậc thầy”-xuất thân từ trường Mỹ thuật Đông dương-do bị nghi ngờ bởi quá nhiều điều tiếng “thật thật-giả giả”, ngày càng khó bán, đành ngủ yên trong các bộ sưu tập v.v…

 

Sau sự kiên 11-9 ỏ Mỹ , tình hình càng bi đát hơn nữa…

 

Nhiều người tỏ ra luyến tiếc cái thời đã qua. Tuy nhiên, dường như ai cũng thấy, sẽ rất khó có một chu kỳ lặp lại. Khó, bởi sự sôi động trước đây là bất bình thường. Nó sôi động, không phải vì sự hấp dẫn của các giá trị nghệ thuật, vì sức sống vốn có, mà chủ yếu vì những biến chuyển đột ngột trong trong tâm lý xã hội và trong bản thân cơ cấu kinh tế-xã hội. Tâm lý thị dân trong nước vừa mới thức giấc và tâm lý hoài hương, tâm lý hồi cố nơi cộng đồng người việt ở nước ngoài là một trong những động lực chủ yếu của nó. Động lực này đã trở nên “sốt” khi các “đại gia” như Nguyễn Đăng Quang (sơn mài Lam Sơn), Tăng Minh Phụng (công ty Minh Phụng), v.v…nhảy vào, mua tranh ào ạt vừa như một thứ trò chơi hãnh tiến, vừa như một thứ phương tiện để che chắn các thủ đoạn gian lận tài chính… Còn đối với đa số người nước ngoài, sự háo hức ban đầu, đơn giản chỉ vì tâm lý hiếu kỳ. Họ tìm mua tranh của các họa sĩ Việt Nam, trong phần lớn trường hợp, vì bị cuốn hút bởi chính các chất liệu đời sống lạ lẫm (đối với họ) được khai thác trong tranh-hình ảnh những thiếu nữ mặc áo dài, nón lá, những con trâu, bến nước, những góc phố cổ v.v…Nói chung, họ mua tranh với não trạng của những người khách du lịch chứ không phải với cái nhìn của những người “sành điệu”; bị thu hút bởi sự độc đáo của các biểu trưng văn hóa, các ký hiệu xã hội hơn là bởi chính các giá trị nghệ thuật v.v… Thời gian và thực tế đã làm cho mọi tâm lý bốc đồng đều tan tành…

 

Sự suy sụp của thị trường mỹ thuật Việt Nam mấy năm qua là điều đáng tiếc. Tuy nhiên, nếu nghĩ lại, suy xét đến cùng, thì phải thừa nhận, đó là chuyện đương nhiên. Mọi sự thành công mang tính cơ hội đều nhất thời. Những lúc như thế này chính là dịp tốt để nhìn lại nội lưc của mình, để định hướng lại. Sẽ không hy vọng còn một mùa bội thu nữa, nếu mỹ thuật Việt Nam vẫn bất lực trong việc tạo một công chúng mỹ thuật trong nước, vẫn còn nhập nhằng giữa phê bình với quảng cáo, vẫn còn “đánh lộn sòng” cái thật với cái giả, cái sáng tạo với cái bắt chước, cái mới với cái thời thượng v.v…

 

 

 

 

 

Nguyên Hưng

2002

 

 

(Đã đăng trên Tuần san SGGP Thứ bảy-20.04.2002)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s