Để xem tranh-một số định kiến cần loại bỏ (E.H. Gombrich)

bởi Nguyên Hưng vào ngày 25 tháng 4 2012 lúc 8:28 chiều ·

Thật ra không hề có cái gọi là nghệ thuật. Chỉ có nghệ sĩ. Đã một thời đây là những kẻ dùng đất màu quệch quạc lên vách động những đường nét của một con bò rừng. Ngày nay nhiều người trong bọn họ mua sơn màu và thiết kế những bảng quảng cáo làm hàng rào tạm thời che chắn các khu vực đang thi công. Họ đã và đang làm nhiều thứ khác. Chẳng thiệt hại gì khi gọi tất cả những hoạt động này là nghệ thuật bao lâu ta còn nhớ rằng một từ như thế có thể chỉ nhiều thứ rất khác biệt trong những thời gian và nơi chốn khác nhau, và rằng nghệ thuật với chữ N viết hoa không hề tồn tại. Vì nghệ thuật với chữ N viết hoa đã dần dà trở thành một thứ vật tổ và ngáo ộp. Bạn có thể nghiền nát một nghệ sĩ bằng cách bảo anh ta rằng cái mà anh ta vừa làm xong thật hoàn hảo theo phong cách riêng của nó, chỉ có điều nó không phải là “Nghệ thuật”. Và bạn có thể sỉ nhục bất cứ ai đang thưởng thức một bức tranh bằng cách tuyên bố rằng điều họ thích nơi bức tranh ấy thực ra chẳng có chi là Nghệ thuật.

Thật sự tôi không nghĩ rằng vì sai lầm mà người ta thích một bức tượng hay một bức tranh nào đó. Họ có thể thích một bức vẽ phong cảnh vì nó gợi nhớ về quê hương, hay một bức chân dung vì nó nhắc nhớ đến một người bạn. Không có gì sai trái trong trường hợp đó. Tất cả chúng ta khi nhìn một bức tranh, chắc chắn sẽ được nhắc nhớ về một trăm lẻ một điều ảnh hưởng đến cái yêu và ghét của ta. Bao lâu những ký ức này còn giúp chúng ta thưởng ngoạn điều chúng ta thấy, sẽ không có gì đáng ngại. Chỉ khi một ký ức nào đó không thích hợp làm ta có thành kiến, khi ta theo bản năng quay lưng lại với một bức danh họa vẽ cảnh núi non vì ta không thích leo trèo, lúc ấy ta nên lục vấn tâm can, tìm cho ra lý do của cái ác cảm đã phá hỏng niềm vui mà lẽ ra ta được nếm hưởng. Quả có những nguyên do sai lầm khiến người ta không thích một tác phẩm nghệ thuật.

Đa số ưa tìm kiếm nơi tranh ảnh những gì họ thích nhìn ngắm trong hiện thực. Đây hoàn toàn là một ý thích tự nhiên. Chúng ta ai cũng ưa vẻ đẹp nơi vạn vật, và tri ân các nghệ sĩ vì đã bảo tồn vẻ đẹp ấy trong tác phẩm của họ. Chính những họa sĩ này cũng không cự tuyệt cái sở thích của ta. Khi Rubens, họa sĩ lừng danh xứ Flanders vẽ chân dung đứa con trai nhỏ của mình (H.1), chắc chắn ông tự hào vì vẻ xinh xắn của cậu. Ông cũng muốn chúng ta chiêm ngưỡng cậu. Nhưng cái khuynh hướng yêu chuộng những chủ đề đẹp đẽ và lôi cuốn dễ trở thành chướng ngại nếu khiến ta từ chối những tác phẩm trình bày một chủ đề ít hấp dẫn hơn. Họa sĩ tài danh người Đức Albrech Durer chắc chắn đã vẽ mẹ mình (H.2) với một tình yêu và lòng tận tụy chẳng kém gì Rubens với cậu con bầu bĩnh. Cách diễn tả trung thực của Durer về tuổi già chồng chất ưu tư theo năm tháng khiến ta thấy gớm và ngoảnh mặt đi. Nhưng nếu biết chống lại cái ác cảm đầu tiên đó, có thể ta sẽ được phần thưởng hậu hĩ, vì bức vẽ của Durer với vẻ chân thực dễ sợ của nó, chính là một tuyệt tác.

(H.1)

(H. 2)

Thực tế ta sẽ sớm nhận ra rằng vẻ đẹp của một bức tranh thật ra không ở tại vẽ đẹp của chủ đề. Tôi chẳng biết những đứa trẻ rách rưới mà Murillo, họa sĩ Tây Ban Nha thích vẽ (H.3) có xinh đẹp như thế hay không, chứ cứ theo bức tranh thì chúng rất quyến rũ. Mặt khác nhiều người có thể sẽ nói bức vẽ đứa trẻ trong nội thất rất tuyệt vời (H.4) của Pieter de Hooch người Hà Lan trông thật tẻ nhạt, nhưng đó cũng là một tác phẩm hấp dẫn không kém.

(H. 3)

(H. 4)

Điều rắc rối là những sở thích và tiêu chuẩn về cái đẹp lại quá ư khác biệt. Hình 5 và 6 đều được vẽ vào thế kỷ 15, và đều diễn tả các thiên thần đang chơi đàn lute. Nhiều người sẽ thích tác phẩm của Melozzo da Forli người Italia (H.5) vì nét yêu kiều đầy mê hoặc của nó hơn tác phẩm của Hans Memling (H.6), người miền Bắc cùng thời với da Forli. Riêng tôi thích cả hai. Có lẽ sẽ hơi mất thời giờ để nhận ra vẽ đẹp thực sự nơi vị thiên thần của Memling, nhưng một khi không còn bị chi phối bởi dáng vẽ xấu xí bẽn lẽn ấy, ta sẽ thấy đó là một hình ảnh vô cùng đáng yêu.

(H. 5)

(H. 6)

Điều xảy ra cho cái đẹp cũng xảy ra cho cách diễn đạt. Thường thì cách diễn tả một hình ảnh trong tranh sẽ làm ta thích hay ghét tác phẩm đó. Có người thích lối trình bày dễ hiểu, và do đó khiến họ xúc động sâu xa. Khi Guido Reni, họa sĩ người Ý thế kỷ mười bảy, vẽ khuôn mặt chúa Jêsu trên thập giá (H.7), rõ ràng ông có ý để người xem phát hiện trên gương mặt đó tất cả nỗi thống khổ và vinh quang của Cuộc Thương Khó. Suốt những thế kỷ sau, biết bao người đã tìm thấy nghị lực và an ủi từ một lối diễn tả như thế về Đấng Cứu Chuộc. Cái cảm xúc do cách diễn đạt ấy mạnh và rõ đến nỗi người ta có thể gặp thấy các phiên bản của tác phẩm này trong những điện thờ đơn sơ bên vệ đường và những nông trang hẻo lánh nơi chẳng ai biết gì về “Nghệ thuật”. Nhưng cách diễn đạt mạnh mẽ này lôi cuốn đến đâu chăng nữa, ta cũng đừng vì thế mà ngoảnh mặt bỏ qua những tác phẩm mà lối trình bày dường như khó hiểu. Nhà họa sĩ người Ý thời Trung cổ khi vẽ bức thập tự (H.8) chắc chắn cũng thật sự cảm xúc vì Cuộc Thương Khó như Reni, nhưng trước hết ta phải học biết cách vẽ của họa sĩ đó để hiểu được những xúc động của ông. Khi đã hiểu được những ngôn ngữ khác biệt này, biết đâu những tác phẩm có lối diễn đạt ít biểu hiện sẽ được ta thích hơn. Có những người thích kẻ khác nói ít và chừa lại một phần cho họ phỏng suy. Tương tự, một số người thích những bức họa hay điêu khắc mà nơi chúng, nhà nghệ sĩ đã để lại một điều gì đó cho họ ức đoán và nghiền ngẫm. Ở những thời kỳ “cổ lỗ”, khi mà khả năng diễn tả dung mạo và bộ điệu con người chưa tài tình như ngày nay, các nghệ sĩ vẫn cố gắng bày tỏ cái cảm xúc mà họ muốn truyền đạt. Và chính điều này thường làm ta dễ rung cảm hơn.

(H. 7)

(H. 8)

Nhưng tới đây, những người mới đến với nghệ thuật thường vấp phải một trở ngại khác. Họ muốn chiêm ngưỡng tài năng của nhà nghệ sĩ qua cách ông trình bày những thứ họ thấy. Điều họ thích nhất là những bức vẽ trông “y thật”. Tôi không phủ nhận rằng đây là một ý tưởng quan trọng. Sự kiên trì và cái kỹ năng nhằm thể hiện trung thực thế giới hữu hình quả rất đáng ngưỡng mộ. Các họa sĩ vĩ đại ngày trước đã dồn bao nhiêu công sức cho những tác phẩm mà trong đó mọi chi tiết nhỏ bé đều được cẩn thận ghi lại. Bức tranh con thỏ bằng màu nước của Durer (H.9) là một trong những ví dụ nổi tiếng cho lòng kiên nhẫn đáng yêu này. Nhưng ai dám nói bức vẽ con voi của Rembrant (H.10) nhất định không đẹp bằng vì ít chi tiết? Rembrant đúng là một phù thủy vì chỉ bằng một vài nét phấn đã cho chúng ta cảm nhận được lớp da nhăn nheo của con vật.

(H. 9)

(H. 10)

Song không phải chỉ những lối phác thảo sơ sài mới làm những kẻ thích tranh ảnh phải “y như thật” cảm thấy bực bội. Những tác phẩm mà hạng người này coi là vẽ sai còn bị họ chán ghét hơn, đặc biệt khi họ thuộc về một thời kỳ hiện đại hơn và các họa sĩ “lẽ ra phải hiểu biết nhiều hơn”. Thật ra chẳng có chi lạ lùng về những lối bóp méo thiên nhiên này, vốn vẫn còn bị kêu ca khi người ta bàn về nghệ thuật hiện đại. Những ai thường xem phim Disney hay hoạt hình đều biết rõ điều đó. Họ hiểu rằng đôi khi được phép vẽ sự vật khác với dáng vẻ thật của nó, được thay hình đổi dạng nó cách này hay cách khác. Chuột Mickey không giống hệt chuột thật, nhưng chẳng ai đăng báo phản đối vì đuôi nó không được dài. Những người bước vào thế giới quyến rũ của Disney không hề băn khoăn về Nghệ thuật với chữ N viết hoa. Họ không đến đấy với những thành kiến như khi đi xem triển lãm tranh hiện đại. Vậy mà nếu một họa sĩ hiện đại vẽ theo phong cách riêng của mình, anh ta sẽ bị coi là thiếu khả năng. Còn hiện nay, bất kể chúng ta nghĩ gì về các họa sĩ hiện đại, ta có thể an tâm rằng họ có đủ kiến thức để vẽ “đúng”. Nếu họ không làm thế, chắc chắn lý do của họ tương tự như của Walt Disney. H.11 là một minh họa trong tác phẩm Lịch sử tự nhiên, tả gà mẹ với lũ gà con có lông măng mềm mại như bông, vẽ bởi Picasso, nhà tiên phong lừng danh của trào lưu hiện đại. Hẳn không ai tìm được lỗi gì ở cách trình bày duyên dáng này. Nhưng khi vẽ một chú gà trống choai (H.12), Picasso không hài lòng với lối diễn tả bình thường. Ông muốn làm nổi bật vẽ hung hăng, ngổ ngáo và ngu ngốc của nó. Nói khác đi, ông đã sử dụng lối biếm họa. Và quả là một bức tranh biếm họa thuyết phục biết bao!

(H. 12)

Do đó, có hai điều ta nên tự hỏi mỗi khi phát hiện sai sót về độ chính xác của một bức tranh. Một là phải chăng nhà nghệ sĩ đã không có lý do nào để thay hình đổi dạng của sự vật mà ông nhìn thấy. Ta sẽ nghe nói thêm về những lý do như thế khi câu chuyện nghệ thuật được bày tỏ. Hai là đừng bao giờ kết án một tác phẩm là vẽ không đúng trừ khi ta hoàn toàn chắc chắn rằng mình đúng và nhà họa sĩ sai. Chúng ta thường rất dễ mau lẹ quyết định rằng “sự vật không giống như thế”. Chúng ta có thói quen kỳ cục là luôn nghĩ rằng thiên nhiên phải giống những bức tranh ta đã quen thuộc. Có thể dễ dàng minh họa điều này bằng một khám phá đã gây nhiều ngạc nhiên cách đây không lâu. Bao thế hệ đã xem ngưa phi, đã tham dự những cuộc đua ngựa và săn bắn, đã thưởng thức tranh ảnh vẽ ngựa xung phong nơi trận mạc hay phóng theo đàn chó. Nhưng dường như không ai trong số những người này đã lưu ý xem khi một con ngựa phi, trông nó “thật sự ra sao”. Tranh ảnh thể thao thường cho thấy chúng sải chân hết cỡ và phóng như bay, như trong một bức vẽ nổi tiếng của Géricault, họa sĩ tài danh người Pháp thế kỷ 19, kể lại những cuộc đua ở Epsom (H.13). chừng năm mươi năm sau, khi máy chụp hình đã được hoàn thiện để có thể ghi lại những động tác lúc ngựa phi nhanh, những bức ảnh chụp lẹ này đã chứng tỏ rằng suốt một thời cả họa sĩ lẫn người xem tranh đều sai lầm. Chưa từng có con ngựa nào phi nước đại theo cái kiểu mà ta coi là “tự nhiên” đó. Khi rời khỏi mặt đất, bốn chân nó lần lược chuyển tới cú nhảy kế tiếp (H.14). Nếu suy nghĩ một chút ta sẽ thấy chắc chắn là phải như vậy. Ấy thế mà, khi các họa sĩ bắt đầu áp dụng những khám phá mới này và vẽ ngựa phi theo kiểu chạy thực sự của chúng, thì ta lại phàn nàn rằng họ vẽ không đúng.

(H. 13)

(H. 14)

Đây rõ ràng là một ví dụ cá biệt, nhưng các sai lầm tương tự tuyệt nhiên không hiếm hoi như người ta nghĩ. Chúng ta có khuynh hướng coi những hình dạng và màu sắc truyền thống là duy nhất đúng. Trẻ con đôi khi nghĩ rằng các vì sao phải có hình ngôi sao, dù thiên nhiên không như thế. Những kẻ khăng khăng đòi bầu trời trong tranh phải màu thiên thanh và cỏ trong tranh phải màu xanh lục cũng chẳng khác trẻ con là mấy. Họ khó chiu khi màu sắc của bức tranh khác đi. Nhưng nếu cố quên đi mọi điều ta biêt về cỏ xanh và trời xanh, và nhìn ngắm thế giới như thể ta vừa đến từ một hành tinh khác trong một chuyến thám hiểm, và đang lần đầu tiên gặp nó, ta có thể tìm thấy nơi sự vật những màu sắc lạ lùng nhất. Các họa sĩ đôi khi thấy mình như đang hành trình khám phá y như vậy. Họ muốn tìm lại thế giới thuở tinh khôi, muốn rũ bỏ mọi thành kiến và quan niệm vẫn có về máu thịt màu hồng và những quả táo màu vàng hay đỏ. Thật không dễ loại trừ những định kiến này, nhưng nhà nghệ sĩ thành công nhất trong quá trình lột xác đó thường đem lại những tác phẩm kỳ thú nhất. Chính họ dạy ta nhận ra trong thiên nhiên những vẻ đẹp không ngờ. Nếu ta theo họ và học hỏi nơi họ, ngay cả một cái liếc qua cửa sổ nhà ta cũng có thể trở thành một cuộc viễn du ly kỳ.

Trở ngại lớn nhất khi thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật chính là sự ngoan cố bám víu vào những thói quen và thành kiến. Để kết án những bức tranh trình bày một chủ đề quen thuộc theo một lối khác lạ, người ta thường chẳng có lý do nào khác hơn là cho rằng dườnh như họa sĩ đã vẽ sai. Càng hay xem một câu chuyện diễn tả bằng nghệ thuật, ta càng chắc chắn rằng nó luôn phải được trình bày bằng những đường nét giống thế. Đặc biệt với những chủ đề từ Kinh Thánh, khi cảm xúc dễ dàng dâng cao. Dù ta biết rằng Sách Thánh không nói gì về hình dáng chúa Jesus, rằng không thể hình dung Thiên Chúa trong vóc dáng người phàm, và dù ta biết rằng chính các nghệ sĩ ngày xưa là những kẻ đầu tiên đã tạo ra những hình tượng mà ngày nay rất quen thuộc với chúng ta, một số người vẫn cho rằng rời bỏ những hình ảnh cổ truyền đó là phạm thánh.

Thật ra chính những nghệ sĩ đó đã hết sức nhiệt tâm và chăm chú đọc kinh thánh để cố gắng hình thành trong tâm trí một hình ảnh mới mới mẻ về những điều đã xảy ra. Họ cố quên những bức tranh đã thấy và cố hình dung cái sự thể đã xảy ra khi Trẻ Jesus nằm trong máng cỏ và các mục tử đến thờ lạy Người, hay khi một ngư phủ bắt đầu rao giảng Phúc Âm. Và đã biết bao lần xảy ra những nỗ lực đó-đọc sách cổ bằng đôi mắt hoàn toàn mới-đã khiến những kẻ vô tâm bị sốc và tức giận. Điển hình là trường hợp của Caravaggio, một họa sĩ rất táo bạo và thích đổi mới. Khoảng năm 1598, ông được giao cho vẽ một bức tranh về Thánh Matthew để trưng bày trong cung thánh của một giáo đường ở Rome . Bức tranh diễn tả vị thánh đang viết Phúc Âm, và để chứng tỏ Phúc Âm là lời của Chúa, một thiên thần đang đứng bên cạnh để gọi ý cho ông. Vốn là một họa sĩ giàu tưởng tượng và không dễ nhượng bộ, Caravaggio đã suy nghĩ cật lực về tình huống đã xảy ra khi một người lao động nghèo và lớn tuổi, một viên quan thuế chất phác, bất ngờ phải ngồi xuống viết một cuốn sách. Và thế là ông đã vẽ Thánh Matthew (H.15) với cái đầu hói và đôi chân lem luốc trần trụi, đang vụng về giữ chặt quyển sách to tướng, vầng trán lo âu nhăn lại dưới sức ép của vịêc viết lách xa lạ. Bên cạnh vị thánh là một thiên thần trẻ, dường như vừa xuống từ trời cao, đang dịu dàng hướng dẫn bàn tay người lao động như người thầy đối với một cậu học trò nhỏ. Khi Caravaggio giao bức họa, người ta cảm thấy bị xúc phạm bởi điều mà họ cho là thiếu tôn kính đối với vị thánh. Tác phẩm bị từ chối và Caravaggio phải vẽ lại. Lần này ông không mạo hiểm nữa, nhưng nghiêm cẩn tuân thủ những nguyên tắc truyền thống vốn đã quy định một thiên thần và một vị thánh phải có dáng vẻ như thế nào (H.16). Kết quả vẫn là một bức tranh đẹp, vì Caravaggio đã hết sức làm cho nó sống động và thu hút, nhưng ta cảm thấy nó không trung thực bằng bức tranh thứ nhất.

(H. 15)

(H. 16)

Câu chuyện trên cho thấy mối nguy hại có thể gây ra bởi những kẻ không thích và chỉ trích các tác phẩm nghệ thuật vì những lý do sai lầm. Quan trọng hơn, nó làm ta hiểu rằng cái gọi là “tác phẩm Nghệ thuật” không phải là kết quả của hoạt động kỳ bí nào đó, mà là những thứ con người làm ra cho con người. Một bức tranh có vẻ xa xôi khi được lồng kính và treo trên tường. Và trong các bảo tàng viện người ta thường cấm sờ mó vào những vật trưng bày. Điều này đúng. Nhưng từ đầu chúng đã được làm ra để người ta cầm nắm và sờ mó, để mặc cả, trao đổi, cãi cọ và lo lắng vì chúng.. Ta cũng nên nhớ rằng mỗi đặc điểm của chúng là kết quả của một quyết định của nhà nghệ sĩ: có thể ông đã nghiền ngẫm và thay đổi nó nhiều lần, có thể ông đã tự hỏi nên đặt cây đó ở hậu cảnh hay vẽ lại cây khác, có thể ông đã rất vừa ý vì một nét cọ may mắn đã đem lại vẻ rực rỡ không ngờ cho một đám mây trong nắng trời, và có thể ông đã miễn cưỡng đưa những hình ảnh đó vào vì sự nài nỉ của người mua tranh. Vì hầu hết những tranh tượng dọc theo các bức tường trong các bảo tàng viện và phòng trưng bày hiện nay đã được làm ra không phải để triển lãm nghệ thuật. Chúng được thực hiện cho một biến cố nhất định mà người nghệ sĩ hằng lưu tâm khi bắt tay vào việc.

Mặt khác, những ý tưởng mà người ngoài như chúng ta thường quan ngại, những ý tưởng về cái đẹp và cách diễn đạt , lại hiếm khi được các họa sĩ đề cập đến. Không phải lúc nào cũng vậy, nhưng suốt nhiều thế kỷ qua vẫn thế, và hiện giờ cũng lại như thế. Lý do phần nào vì các họa sĩ thường ngượng ngùng khi phải dùng những từ ngữ lớn lao như “cái đẹp”. Họ thấy mình như ra vẻ ta đây nếu phải nói về “cách diễn đạt cảm xúc của mình” và những thứ tương tự. Họ coi chúng là đương nhiên và vô ích khi bàn đến. Đó là một lý do và dường như là một lý do tốt. Nhưng còn một lý do khác. Trong những nỗi trăn trở thường ngày của nhà nghệ sĩ, những ý tưởng trên đóng vai trò nhỏ bé hơn người ta nghĩ. Điều lo lắng của một họa sĩ khi bố cục một bức tranh, khi vẽ phác, hay khi tự hỏi bức họa của mình đã hoàn hảo hay chưa, là một cái gì đó còn khó nói thành lời hơn nhiều. Có thể anh ta sẽ nói mình lo ngại không biết nó đã “đạt” hay chưa. Và chỉ khi nào biết được điều anh ta muốn nói qua cái từ “đạt” nhỏ bé khiêm tốn đó, ta mới bắt đầu hiểu cái mà họa sĩ thực sự theo đuổi.

May ra ta có thể hiểu được điều này nếu vẽ theo kinh nghiệm riêng của mình. Dĩ nhiên ta không phải là họa sĩ, có thể chưa từng thử vẽ một bức tranh, hay chưa từng có ý định làm thế. Nhưng như vậy không có nghĩa là ta chưa bao giờ đối mặt với những vấn đề tương tự những khó khăn đã làm nên cuộc sống của nhà nghệ sĩ. Tôi thật ước ao mình có thể chứng minh rằng hiếm có ai mà không có ít là một ý niệm sơ sài về loại khó khăn này. Bất cứ ai đã từng cắm một bình hoa, xáo trộn và chuyển đổi các màu sắc, thêm một chút ở đây và bớt ở kia, đều trãi qua cái cảm giác lạ lùng này khi cân bằng các hình dạng và màu sắc mà không thể nói đích xác mình đang cố a9ạt tới một sự hài hòa như thế nào. Ta chỉ thấy rằng một mảng đỏ ở đây có thể đổi khác toàn bộ, hay màu xanh dương này vốn đẹp nhưng lại không “đi” với những màu khác, hay bất ngờ một nhánh lá nhỏ màu lục dường như lại làm cho bố cục trở nên “đạt”. Ta la lên: “Đừng đụng vào nó nữa, bây giờ nó hoàn hảo rồi!” Tôi công nhận không phải ai cũng cẩn thận như thế khi cắm hoa, nhưng mọi người đều có điều chi đó muốn làm cho “đạt”. Có thể chỉ là tìm chiếc thắt lưng thích hợp với bộ váy mới, hay rõ hơn, nỗi lo về tỉ lệ đúng của các thành phần bột, sữa, đường, trứng… khi làm bánh. Những lúc như thế, dù là chuyện vặt, ta có thể cảm thấy rằng chỉ một chút quá nhiều hay quá ít đủ để đảo lộn thế cân bằng, và chỉ có một tương quan duy nhất phải đạt tới bằng mọi giá.

Những kẻ băn khoăn như thế về hoa, về trang phục hay thực phẩm, ta cho họ là tỏn mỏn, vì có thể ta nghĩ rằng những thứ đó chẳng mấy ai để ý. Nhưng điều đôi khi có thể là một thói quen xấu trong đời thường và do đó, luôn bị đè nén hoặc che đậy, lại được thừa nhận trong lãnh vực nghệ thuật. Khi đó là vấn đề cân đối các hình thể hay bố cục màu sắc, một họa sĩ luôn phải “tỏn mỏn” hoặc chi li đến độ cực đoan. Anh ta có thể nhìn thấy những khác biệt trong các bóng mờ và kết cấu mà ta khó lòng nhận ra. Hơn nữa, công việc của anh ta vô cùng phức tạp hơn mọi thứ công việc đời thường của anh ta. Anh ta phải cân đối không chỉ hai hay ba màu, hình dạng hay ý thích, nhưng là bất kể số lượng. Anh ta có, trên bức vẽ của mình, lắm khi tới hàng trăm bóng mờ và hình thể phải đạt được cân đối cho đến khi “đạt”. Một mảng xanh lục có thể bất ngờ ra vàng đậm vì được đặt quá gần một mảng xanh dương đậm-anh ta có thể cảm thấy rằng toàn bộ đã bị hỏng, rằng có một sắc độ không hòa hợp trên bức tranh và rằng anh ta phải làm lại từ đầu. Có thể anh ta phải khổ sở vì điều này, nghiền ngẫm nó trong những đêm thức trắng, hoặc cả ngày đứng trước bức vẽ cố chấm thêm một nét màu ở đây hay ở kia rồi lại xóa đi, dù cả bạn lẫn tôi nhiều khi thấy chẳng có gì thay đổi. Nhưng một khi anh ta đã thành công, ta cảm thấy anh ta đã đạt được một cái gì đó không thể thêm bớt, một cái gì đúng-một thí dụ về sự hoàn hảo trong cái thế giới bất toàn của chúng ta.

Hãy lấy một trong những bức Madonna (tranh vẽ Đức Mẹ) nổi tiếng của Raphael, “Đức Trinh Nữ trên đồng cỏ” (H.17), làm thí dụ. rõ ràng đây là một bức tranh đẹp và thu hút. Các nhân vật được thể hiện tuyệt vời, và vẻ mặt của Đức Trinh Nữ đang nhìn xuống hai trẻ quả là không thể quên được. Nhưng nếu nhìn vào những phác thảo của Raphael (H.18), ta sẽ bắt đầu nhận ra rằng những nét đẹp hay cách thể hiện đó không phải là điều phiền toái nhất đối với nhà họa sĩ, vì đương nhiên phải thế. Điều ông thử đi thử lại để đạt cho bằng được chính là sự cân đối đúng mức giữa các nhân vật, một tương quan chuẩn xác để tạo một tổng thể hài hòa. Ở góc trái bản nháp, ông tính để trẻ Jesus vừa bước đi vừa quay đầu lại và nhìn lên Mẹ mình. Và ông thử những vị trí khác nhau của đầu Đức Mẹ sao cho đáp ứng với động tác của Chúa con. Rồi ông quyết định xoay Chúa con lại và để Người nhìn lên Mẹ mình. Rồi ông thử lối khác bằng cách đưa vào nhân vật thứ ba: thánh Joan Tẩy giả. Nhưng thay vì để trẻ Jesus nhìn vào cậu ta, ông để Người nhìn ra ngoài bức tranh. Rồi lại thử kiểu khác, và hiển nhiên đã hết kiên nhẫn, ông xoay đầu Trẻ Jesus theo nhiều vị trí khác nhau. Còn vài tờ nữa giống thế trong tập phác thảo của nhà nghệ sĩ, trong đó ông vẽ đi vẽ lại để cân bằng tốt nhất cho ba nhân vật này. Và bây giờ, nhìn lại bức vẽ sau cùng (H.17), ta thếy rốt cuộc ông đã bố cụa hoàn hảo. Mọi thứ trong tranh như ở đúng vị trí của chúng, và cái tư thế và sự hài hòa này đã làm cho vẽ đẹp của Đức Mẹ thêm yêu kiều và nét dịu dàng của hai đứa trẻ thêm dễ thương.

(H. 17)

(H. 18)

Thật hấp dẫn khi quan sát một nghệ sĩ đang nỗ lực như vậy để có được thế cân đối hoàn chỉnh. Nhưng nếu hỏi anh ta tại sao làm như thế này hay đổi thế kia, có lẽ anh ta không trả lời được. Anh ta không tuân thủ bất cứ nguyên tắc cố định nào mà chỉ cảm thấy cái hướng phải theo. Thật ra có vài nghệ sĩ hay phê bình gia trong những thời kỳ nào đó đã cố gắng công thức hóa những qui tắc nghệ thuật của mình. Nhưng luôn luôn xảy ra là những họa sĩ kém cỏi chẳng gặt hái được chi khi áp dụng những luật lệ đó, trong khi các bậc thầy vĩ đại có thể phá bỏ chúng mà lại đạt được một kiểu phối hợp mới chưa ai từng nghĩ đến. Khi Sir Joshua Reynolds, họa sĩ lừng danh giải thích cho các học viên Học Viện Hoàng Gia rằng không nên đặt màu xanh lam ở tiền cảnh của bức tranh mà nên dành nó cho hậu cảnh xa xa, cho những ngọn đồi mờ dần phía chân trời, thì đối thủ của ông là Gainsborough-chuyện kể như vậy, để chứng minh rằng những qui tắc như thế là vô nghĩa, đã vẽ bức “Blue Boy” nổi tiếng, với cậu bé trong bộ y phục xanh lam, đắc thắng nổi bật trên nền nâu ấm cúng của hậu cảnh.

Sự thật là không thể đặt ra những luật lệ kiểu này vì chẳng biết trước nhà họa sĩ muốn đạt tới hiệu quả nào. Thậm chí anh ta có thể sử dụng một sắc độ không phù hợp hoặc chói gắt nếu tình cờ thấy nó đúng ý mình. Giống như chẳng có luật lệ nào cho ta biết khi nào một bức tranh hay tượng được coi là đạt., thường cũng không thể giải thích chính xác tại sao ta cảm thấy đó là một tác phẩm lớn. Nhưng điều đó không có nghĩa là mọi tác phẩm đều có giá trị ngang nhau, hoặc ta không thể thảo luận những vấn đề thuộc khiếu thẩm mỹ. Những cuộc bàn cãi như thế, nếu chẳng đi đến đâu, ít ra cũng khiến ta nhìn lại bức tranh, và càng quan sát ta càng nhận ra những điều trước đây mình đã không thấy. Ta bắt đầu cảm nhận cái kiểu phối hợp mà mỗi thế hệ họa sĩ đã cố vươn tới. cảm xúc vì những kiểu phối hợp này càng lớn, ta càng say mê chúng, và sau cùng, đó mới là điều đáng nói. Có một câu phương ngôn cổ rất chí lý rằng bạn không thể tranh cãi về những vấn đề thuộc khiếu thẩm mỹ, nhưng đừng vì thế mà chối bỏ rằng khiếu thẩm mỹ có thể được thăng tiến. Đây cũng là lại là vấn đề thuộc cái kinh nghiệm chung ai cũng có thể trãi nghiệm trong những tình huống đơn giản nhất. Tỉ dụ như với những người không quen uống trà, hương vị của các loại trà chẳng mấy khác nhau. Nhưng nếu họ rảnh rỗi, muốn tìm tòi và có cơ hội nghiên cứu các thứ trà chọn lọc, họ có thể trở thành một kẻ sành điệu thứ thiệt, có thể phân biệt chính xác từng loại hương vị đơn thuần và hỗn hợp. và trình độ hiểu biết càng cao, họ càng thêm hứng thú trước những hương vị chọn lọc nhất.

Phải thừa nhận rằng sở thích về nghệ thuật là một cái gì đó tuyệt đối phức tạp hơn sở thích về ăn uống. Nó không chỉ là vấn đề nhận ra những hương vị tinh tế đủ loại mà còn là một điều chi đó nghiêm túc và quan trọng hơn. Sau cùng, vì các bậc thầy vĩ đại đã ký thác tất cả những gì mình có vào những tác phẩm của họ, đã chịu khổ, đã hao tổn tâm huyết vì chúng, nên tối thiểu họ có quyền đòi hỏi ta hãy cố hiểu điều họ muốn nói.

Chẳng ai hiểu biết hết về nghệ thuật. Luôn có những điều mới để khám phá. Những tác phẩm nghệ thuật lớn như đổi khác mỗi lần ta đứng trước chúng. Như con người, chúng có thể phong phú vô tận và không thể tiên đóan. Đó là một thế giới kỳ thú riêng, với những luật lệ lạ lùng và đủ thứ mạo hiểm. Để thưởng thức những tác phẩm ấy, cần có một tâm tư trong sáng, bén nhạy trước mọi ẩn ý và đáp ứng mọi hòa âm lặng lẽ của nhà nghệ sĩ, nhất là một tâm trí không chất đầy những ngôn từ hoa mỹ lòe đời và những luận điệu học mót. Thà đừng biết tí gì về nghệ thuật còn hơn là có một dúm kiến thức nửa mùa để đua đòi, vì rất nguy hiểm. Chẳng hạn như có những kẻ nhặt nhạnh được những điều đơn giản tôi trình bày trong chương này, và biết rằng có những tác phẩm nghệ thuật lớn mà cách diễn đạt hay vẻ đẹp không hề biểu hiện rõ ràng hoặc có vẻ như đã được phác họa sai, và họ tự mãn về sự hiểu biết của mình đến độ giả vờ chỉ thích những tác phẩm chẳng đẹp mà cũng chẳng vẽ đúng. Họ luôn sợ bị coi là thiếu văn hóa nếu thú nhận là mình thích một tác phẩm có lối diễn đạt thú vị hay xúc động quá biểu hiện. sau cùng trở thành những kẻ đua đòi hợm hĩnh, họ đánh mất niềm vui thật nơi nghệ thuật, và phải gọi tất cả những thứ khó ưa là “rất hấp dẫn”. Tôi không thích phải chịu trách nhiệm về bất cứ sự ngộ nhận nào tương tự. Thà tôi không được ai tin, chứ đừng tin tôi một cách mù quáng như vậy.

Những chương sau đây bàn về lịch sử nghệ thuật, tức là lịch sử của kiến trúc, hội họa và điêu khắc. Một chút kiến thức như thế, theo tôi, sẽ giúp ta hiểu tại sao các nghệ sĩ đã sáng tạo theo những phong cách riêng biệt, và tại sao họ nhắm tới những hiệu quả nào đó. Trên tất cả, nó là một phương pháp tốt để luyện cho đôi mắt thêm sắc bén, nhanh nhậy với những nét đặc thù của các tác phẩm nghệ thuật, và nhờ nó nâng cao khả năng đáp ứng của ta trước những sắc thái khác biệt tinh tế hơn. Và có lẽ đây cũng là phương pháp duy nhất để học cách thưởng thức nghệ thuật xứng hợp với thế giá của nó. Nhưng không có một con đường nào không có nguy hiểm. Đôi lúc ta thấy thiên hạ rảo qua một phòng trưng bày với danh mục trên tay. Mỗi khi dừng trước một bức tranh, họ hăm hở tìm số của nó. Ta có thể quan sát cách họ lật các trang sách, và ngay khi tìm ra ra tựa đề hay tên gọi của bức tranh, họ đi tiếp. Lẽ ra họ nên ở nhà, vì hầu như họ không nhìn vào bức họa. Họ chỉ kiểm tra quyển danh mục của mình. Đó là một kiểu dạo chơi giây lát cho tâm trí, và chẳng có liên quan gì tới việc thưởng thức một bức tranh.

Những người có chút kiến thức về lịch sử nghệ thuật, đôi khi có nguy cơ rơi vào cái bẫy tương tự. Khi thấy một tác phẩm nghệ thuật, họ không dừng lại để nhìn nó, mà lại lục lọi ký ức tìm một cái tên thích hợp. Có thể họ đã nghe nói rằng Rembrandt nổi tiếng vì kỹ thuật chiaroscuro-một từ kỹ thuật Ý, có nghĩa là sáng và tối-nên mỗi khi thấy một tác phẩm của Rembrandt, họ gật đầu ra vẻ thông thạo, miệng lẩm bẩm “chiaroscuro tuyệt vời”, rồi quay sang bức bên cạnh. Tôi muốn hoàn toàn thẳng thắn về nỗi nguy hiểm do thói đua đòi và kiến thức nửa mùa này, vì tất cả chúng ta có khuynh hướng nhượng bộ trước những cám dỗ ấy. Tôi muốn giúp mở mắt, chứ không mở lưỡi cho bạn. Nói về nghệ thuật cho hay xét ra chẳng mấy khó, bởi từ ngữ của các nhà phê bình đã mất hết độ chính xác vì được sử dụng cho quá nhiều trường hợp khác biệt. Nhưng nhìn ngắm một bức tranh bằng đôi mắt trong sáng, và dấn mình vào một hành trình mạo hiểm để khám phá nó là công việc tuy khó khăn gấp bội nhưng lại được tưởng thưởng trọng hậu hơn. Không thể biết trước ta sẽ mang được gì về nhà sau một chuyến viễn du như thế.

E.H. Gombrich

Lê Sỹ Tuấn biên dịch

 

(*) Đây là phần dẫn nhập sách CÂU CHUYỆN NGHỆ THUẬT-xuất bản lần đầu năm 1950, của E. H. Gombrich. Tựa bài do tôi (NH) đặt

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s