Nghiệp? (Võ Đình)

Đây không phải là chuyện “nghiệp” trong nghĩa “nghiệp báo”, “nghiệp chướng”. Đây là chuyện làm nghệ thuật “chuyên nghiệp” và làm nghệ thuật “nghiệp dư”. Cố nhiên, chúng ta có thể nói rằng “làm nghệ thuật”, thật ra, cũng là một thứ “nghiệp chướng”… “Đã mang lấy nghiệp vào thân”…

Trong một số Văn Học cũ có bài “Người họa sĩ cà lăm”(1) của tôi. Vì thấy cần phải bàn thêm đôi điều về bài viết nên tôi ghi lại đây những nét chính của bài ấy để bạn đọc tiện theo dõi.

Người viết có anh bạn họa sĩ. Vẽ rất đẹp. Được đại diện bởi một “gallery” ở thủ đô Washington, DC. Mang bằng tiến sĩ vật lý học từ Princeton. Sinh sống như một chuyên gia cao cấp cho một cơ quan chính phủ liên bang. Anh muốn bỏ việc ở cơ quan, cống hiến tất cả thì giờ và năng lực cho hội họa. Sẵn sàng chấp nhận những thiệt thòi vật chất trong đời sống của một nghệ sĩ.

Người viết khuyên anh bạn đừng. Khuyên anh không nên lưu tâm đến sự phân biệt giữa hai danh nghĩa “chuyên nghiệp” và “nghiệp dư” của một nghệ sĩ. Điều quan trọng là tình yêu cho nghệ thuật và sự thành tựu trong nghệ thuật. Quan trọng là cái bản lãnh của người nghệ sĩ. Bản lãnh đó, anh bạn nắm trong tay. (Người viết dùng từ “bản lãnh” tuy không ưa nó. Nghe cao ngạo, không hay). “Bản lãnh” đó là gì?

“Đó là tài năng. Là ý chí. Là lý tưởng. Là nghị lực. Và một yếu tố nữa vô cùng cần thiết vì nếu không có nó thì mọi yếu tố kia cũng hụt hẫng, vô dụng. Đó là lòng yêu mến nghệ thuật. Không, ‘yêu mến’ không đủ mạnh, không đủ sâu. Phải nói đam mê. Passion.”[…] “Tài năng, ý chí, lý tưởng, nghị lực là bốn cạnh của mặt đáy (một hình khối kim tự tháp, tượng trưng cuộc sống cho nghệ thuật) giữ cân bằng cho ngọn tháp: Đam Mê. Ngọn không thể hiện hữu nếu không có đáy. Cạnh nương tựa nhau để đưa lên thành ngọn. Năm yếu tố đó làm nên bản lãnh của người nghệ sĩ. Đó là cốt tủy.”(1)

Khẳng định ngon lành nhưng rồi dần dà, phản ứng của người đọc không trôi xuôi như vậy. Trong số những hồi âm, có hai nhận định cần được đặc biệt lưu tâm.

Một anh bạn, họa sĩ, cho biết người viết đã làm một việc “phản nghệ thuật” khi khuyên nhủ người họa sĩ nọ đừng bỏ việc ở cơ quan để cống hiến toàn thời gian cho nghệ thuật. Anh viết rằng: “Nếu ngày xưa, có người khuyên được anh sinh viên trẻ (là người viết này, nửa thế kỷ về trước) đừng dấn thân theo nghệ thuật thì ngày nay làm gì có…ông V.Đ.!”

Một người bạn khác, chuyên về văn học, nói thẳng trong thư riêng: “Về bài “Người họa sĩ cà lăm” của anh trên Văn Học số tháng 8 vừa rồi thì rất hay, nhưng cũng có thể cãi lại được lắm, nhất là khi nhìn tình trạng chuyên nghiệp hay nghiệp dư ở tầm quốc gia. Với một cá nhân, chuyện vẽ hay viết chuyên nghiệp quả không có gì quan trọng; nhưng thử tưởng tượng trong cả một nước!”

Như đã có nói, bài viết trên đây ở Văn Học là một bài “cũ”. Tuy thế, tôi thấy cần phải bàn về đôi điều để làm cho vấn đề sáng tỏ hơn.

Trước hết, thắc mắc của anh bạn họa sĩ nọ quả là chính đáng. Song, hoàn cảnh đời sống gia đình, kinh tế, văn hóa, của anh sinh viên trẻ ngày xưa và của ông tiến sĩ vật lý kiêm họa sĩ trung niên ngày nay có quá nhiều khác biệt.

Anh sinh viên tuổi đôi mươi mới vào đời, đang còn ngơ ngác trước ngã ba đường, chỉ biết nhìn vào sự say mê của mình nhưng chưa ý thức đầy đủ vấn đề trách nhiệm và cơm áo. Nhà vật lý trung niên đã thân thiết với cây bút từ thiếu thời, đã nhẫn nại học thành tài, lãnh bằng tiến sĩ khoa học, đã phục vụ cả mười năm trời như một chuyên gia cao cấp của chính phủ liên bang Hoa kỳ. Anh sinh viên trẻ tha thiết ôm giấc mơ theo đuổi ngành họa và trở thành một họa sĩ. Nhà vật lý, ngoài công việc chuyên môn như một khoa học gia, đã chứng tỏ mình còn là một họa sĩ tài hoa, một nghệ sĩ nắm vững nghệ thuật của mình, được đại diện bởi một nhà bán tranh (art gallery) ở trung tâm thủ đô Washington, DC…

Vì những khác biệt đó, không nên can ngăn anh sinh viên trẻ, cứ để mặc anh đeo đuổi giấc mơ của mình. Cũng vì những khác biệt đó, cần khuyến khích và trấn an nhà vật lý hãy cứ tiếp tục đi trên con đường đã đi nhiều năm. Bởi vì “chung qui, bản lãnh của người nghệ sĩ là yếu tố quyết định tối hậu, quan trọng nhất, sâu xa nhất. Bản lãnh đó, cậu (người viết gọi anh bạn họa sĩ, nhỏ thua gần chục tuổi) đã tỏ là cậu nắm trong tay. Con đường bao năm qua cậu vẫn đi là một con đường không hiểm trở nhưng gian nan, không khúc khuỷu nhưng gập ghềnh. Tuy thế, đó cũng là một con đường sáng sủa, an toàn. Đừng nghĩ có con đường nào thong dong hơn. Đừng có mơ tưởng hão huyền.”

Hoàn cảnh anh sinh viên tuổi hai mươi và nhà vật lý trung niên, khác biệt như vậy cho nên không thể so sánh và bảo rằng không can ngăn anh sinh viên mơ làm họa sĩ thì cũng không nên can ngăn nhà vật lý kiêm họa sĩ tài hoa.

Sau nữa, quan điểm của anh bạn, chuyên về văn học, cũng thật chính đáng. Tuy nhiên, vì là một người theo nghiệp hội họa suốt đời, toàn thời gian — nghĩa là một nghệ sĩ chuyên nghiệp – tôi thấy có một số lấn cấn cần được nói ra.

Người viết thông cảm sâu sắc nỗi thắc mắc của anh bạn, mặc dù anh khơi khơi bảo rằng “với một cá nhân, chuyện vẽ hay viết chuyên nghiệp/nghiệp dư quả không có gì quan trọng”, phần đầu của khẳng định của anh.

Phải xác nhận lại ngay rằng tình trạng chuyên nghiệp/nghiệp dư của một nghệ sĩ ảnh hưởng rất sâu xa đến đời sống (vật chất và tinh thần) của người ấy lắm chứ. Quan trọng lắm chứ. Tôi không muốn lập lại đây những gì đã nói rồi trong bài viết cũ “Người họa sĩ cà lăm”. Chẳng hạn vấn đề thì giờ, năng lực sáng tạo, lợi tức kinh tế, lệ thuộc hay tự do khi sáng tác, danh nghĩa của nghề nghiệp, v.v… Ở đây, tôi chỉ muốn nói rằng chúng ta không nên “dựa lời” quá nhiều mà vướng mắc vào, “mất ý” của anh bạn. “Ý” đó là phần sau của khẳng định: “chuyện vẽ hay viết chuyên nghiệp/nghiệp dư quả không có gì quan trọng nhưng thử tưởng tượng trong cả một nước.”

Viết ngang đây, tôi được người quen gửi cho một bài báo từ Việt nam có nhan đề “Nhà văn Hiện Đang Sống Bằng Gì?” Tác giả: Cẩm Thành. (Người quen không thạo việc ghi chép, gửi cho bài báo mà lại không đề tên báo, số bao nhiêu, ra ngày nào…) Bài báo kết thúc như sau: “Đời sống khó khăn của nhiều nhà văn hiện nay đã làm chậm quá trình hình thành đội ngũ nhà văn chuyên nghiệp. Mà, một nền văn học phát triển mạnh không thể không có một đội ngũ đông đảo các nhà văn chuyên nghiệp.”

Chúng ta, dĩ nhiên, hiểu rằng hai chữ “nhà văn” ở đây có thể được thay thế với hai chữ khác như “thi sĩ’, “họa sĩ”, “nhạc sĩ’, v.v… Nói chung, “nghệ sĩ”. Và hai chữ “văn học” ở đây có thể được thay thế với hai chữ “nghệ thuật”. Như thế, câu viết trên có thể được đọc như “Đời sống khó khăn của nhiều nghệ sĩ hiện nay đã làm chậm quá trình hình thành đội ngũ nghệ sĩ chuyên nghiệp. Mà một nền nghệ thuật phát triển mạnh không thể không có một đội ngũ đông đảo các nghệ sĩ chuyên nghiệp.” Chúng ta hãy đọc lại phát biểu của anh bạn tôi: “Với một cá nhân, chuyện vẽ hay viết chuyên nghiệp/nghiệp dư quả không có gì quan trọng, nhưng thử tưởng tượng trong cả một nước.” Sự nhận định của một người viết, ở Việt nam, phù hợp với nỗi bận tâm của anh bạn tôi ở hải ngoại. Phối hợp sự nhận định trên với nỗi bận tâm ấy, chúng ta có thể kết luận rằng: “Trong cả nước, không có đông đảo nghệ sĩ chuyên nghiệp, nghệ thuật không thể phát triển mạnh mẽ được.” Nói cách khác, tình trạng chuyên nghiệp (của nghệ sĩ) là điều kiện không thể không có được cho sự phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật.

Thật thế chăng?

Tôi có điều ngờ…

Tôi nghĩ đến những tài hoa thuở trước ở nước ta. Những Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát… Tôi nghĩ đến thời đại Lê Thánh Tông đời Hậu Lê ở ta, thời đại vua Minh hoàng đời Đường bên Trung quốc… Ở những thời đó, nghệ thuật chưa vướng mắc vào danh nghĩa chuyên nghiệp hay nghiệp dư, nhưng sự cầm bút của tiền nhân liên hệ chặt chẽ với học thức và địa vị xã hội của họ. Ở cả những vị như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, “làm thơ” cũng nằm trong phạm vi sinh hoạt “sách vở”. Những ông vua yêu thơ, đọc thơ, và làm thơ như (Đường) Huyền tông, như (Lê) Thánh tông, (Nguyễn) Dực tông đã làm cho cả thần dân đi theo. Đại đa số thần dân nghèo khổ dốt nát, chứ đình thần thì đông đảo những ông quan, dù không tài hoa vượt bực đi nữa, cũng ham lựa chữ gieo vần, hằng mong được đấng quân vương để mắt tới. Đời Đường, các Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị là những chóp núi trong dãy trường sơn điệp điệp trùng trùng. Trong cả đám văn thần đông đảo, vua Lê Thánh tông chỉ chọn có 28 người cho đủ số của hội Tao đàn nhị thập bát tú!

Nói tóm lại, thời phong kiến, vua chúa yêu chuộng văn học nghệ thuật thì người có học lẫn kẻ thất học, cả nước đi theo. Trong đám “nghệ sĩ” lau nhau, một vài tài ba lớn trỗi dậy, làm nên thanh danh cả một thời.

Ngày nay, thời chúng ta, khi cấp lãnh đạo, tầm quốc gia, chỉ chăm chú hết mình vào các lãnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, tài chánh, dân chúng dại gì mà chạy theo văn học nghệ thuật. Những cơ quan nhà nước chuyên về văn học nghệ thuật cũng được chiếu cố đấy nhưng đa số chúng ta đều biết rằng đó chỉ là những tô điểm màu mè, hầu “làm đẹp” mà thôi. Lúc sinh thời, tổng thống John F. Kennedy đã để vợ là bà Jacqueline mời Pablo Casals vào chơi đàn ở Bạch cung. Sự có mặt của thiên tài đại-vĩ-cầm ở tư dinh vị nguyên thủ quốc gia một siêu cường thật ra còn chưa quan trọng bằng sự kiện tổng thống De Gaulle mời nhà văn André Malraux ngồi ghế bộ trưởng Văn hóa. Casals chơi đàn ở Bạch cung không làm cho thiên hạ rùng rùng đi nghe nhạc cổ điển. Malraux làm bộ trưởng cũng không khiến cho quần chúng Pháp ham mê đọc sách hơn trước. Sự thật là nhờ bà Jacqueline mà âm nhạc được coi trọng, một thời gian. Nhờ ông Malraux mà quyền lợi của giới làm nghệ thuật được bảo vệ kỹ lưỡng hơn, một thời gian. Sự thật là từ giữa thế kỷ 19, đặc biệt ở Tây phương, cách mạng công nghệ đã tạo nên một tầng lớp có tiền và thế lực. Giới nghệ thuật đã học được đôi điều từ giới thương mãi: tổ chức, hợp quần, và tranh đấu cho quyền lợi của mình. Từ đó nảy sinh ra những tổ chức, hiệp hội của những người “chuyên nghiệp” cùng nghề. Và cũng từ đó có sự phân biệt, và kỳ thị, giữa giới “chuyên nghiệp” và giới “nghiệp dư”. Giới chuyên nghiệp có báo chí riêng, chuyên trị nghề nghiệp của họ, và những cây bút chuyên cung cấp bài vở cho các báo đó. Ngoài ra, còn có các cơ sở giáo dục -ở cấp đại học-và nghệ thuật như các viện bảo tàng (công), các viện mỹ thuật (tư).

Tất cả những cơ sở kể trên hợp lại thành thế lực nuôi nấng, hỗ trợ, điều động và chi phối giới nghệ sĩ. Chị A là một người yêu vẽ, và vẽ đẹp, nhưng vì lý do nào đó chị chưa từng triển lãm họa phẩm của mình. Mặc dù cầm cọ đã nhiều năm, chị A vẫn bị coi như một họa sĩ tài tử, an amateur artist. Trái lại, tuy mới cầm cọ mấy năm, anh B đã ít nhất trưng bày hai lần tác phẩm của mình. Đến khi anh biết điều kiện để trở thành hội viên của hiệp hội nọ là đã từng có hai triển lãm cá nhân, anh bèn nạp đơn xin vào hội, và được chấp nhận ngay. Từ đó anh được mọi người coi như một nghệ sĩ chuyên nghiệp – a professional artist. Dưới mắt số đông, với cái nhãn hiệu hội viên của hiệp hội danh tiếng nọ, anh B là người có “khả năng” hơn, đáng “tin cậy” hơn chị A trong lãnh vực hội họa. Trong khi, khách quan mà xét, trình độ của anh B chỉ đáng làm học trò chị A.

Chúng ta thấy rằng sự phát triển mạnh mẽ của các lãnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, tài chánh đem lại phú cường cho quốc gia, tạo nên hoàn cảnh thuận lợi cho những sinh hoạt nghệ thuật, và do đó, dung dưỡng được tình trạng “chuyên nghiệp” (của nghệ sĩ). Nói cách khác, tình trạng chuyên nghiệp (của nghệ sĩ) không phải là cái nhân, và sự phát triển của một nền nghệ thuật không phải là cái quả. Ngược lại. Vì thế cho nên khẳng định rằng “tình trạng chuyên nghiệp (của nghệ sĩ) là điều kiện không thể không có được cho sự phát triển của nghệ thuật” là đặt cái cày đằng trước con trâu.

Ngày nay, ở Sài gòn, Hà nội, đã có những khách sạn “5 sao”, “tiêu chuẩn quốc tế”, nhưng chưa có “đông đảo nghệ sĩ chuyên nghiệp”. Thế nhưng với cái đà “hiện đại hóa” bây giờ, rồi một ngày Việt nam sẽ có một “đội ngũ nghệ sĩ chuyên nghiệp”; câu hỏi được đặt ra là sự kiện ấy có đem lại sự “phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật không? Chúng ta có thể thành thật trả trả lời rằng chúng ta không biết. “Chuyên nghiệp” có thể được xem như “thành thạo”, “lành nghề” hơn “không chuyên nghiệp”. Người lái xe tải mười bánh, anh thợ sửa ống nước, vị thầy thuốc chuyên về giải phẫu, bác hớt tóc, bác thợ nề, thợ mộc, vâng, nếu là “chuyên nghiệp” ắt phải thành thạo, lành nghề hơn “không chuyên nghiệp”. Nhưng trong lãnh vực văn học nghệ thuật, không có gì bảo đảm “chất lượng” của những người “chuyên nghiệp” cả. Chỉ căn cứ vào trình độ và khả năng của một nghệ sĩ cá nhân, chúng ta mới biết được. Một mình, người nghệ sĩ tự khẳng định với “bản lãnh” của mình, chứ không còn là một sinh vật xã hội mang trên trán danh nghĩa “chuyên nghiệp” hay “nghiệp dư”.

Tất nhiên, bất kể tình trạng “chuyên nghiệp” hay “nghiệp dư” của một người, chỉ tác phẩm của người đó mới là đối tượng chúng ta cần xem xét và phê phán. Gần đây, trong một bài báo (2), đọc thấy câu viết mấy chục năm về trước của Thạch Lam: “Làm thợ, đi buôn, còn phải khó nhọc, còn phải học nghề; tại làm sao viết văn lại không muốn học, không muốn cố?” Thật vậy, có một điều rất lạ lùng – mà cũng khá phổ biến: hình như đa số chúng ta cho rằng làm thợ, đi buôn, làm thầy thuốc, vân vân, cần phải học trong khi rất nhiều người, kể cả anh thợ đó, người đi buôn kia, vị thầy thuốc nọ lại cho rằng làm nghệ thuật chỉ cần có “khiếu” là làm được, không cần phải học. Và chúng ta thấy, nhan nhản, lắm người sống cả đời với một nghề nào đó, bỗng nhiên xoay qua viết văn, làm thơ, làm nhạc, vẽ tranh, tự coi mình, và muốn mọi người coi mình như một nhà văn, nhà thơ, một nhạc sĩ, hay họa sĩ.

Ngay lập tức, chúng ta thấy những hậu quả xấu: thứ nhất, vàng thau, thật giả lẫn lộn. Thứ hai (hậu quả này sinh ra từ hậu quả trước), số đông quần chúng đánh giá tác phẩm của những nghệ sĩ nghiệp dư này bằng cách dựa trên những nguyên tắc phi nghệ thuật. Và, thứ ba (hậu quả này lại sinh ra từ hậu quả thứ hai), “nghệ thuật” được đánh giá “cao” đó được cơ hội trở thành một thứ qui phạm có giá trị. Người đi sau cứ thế mà tiếp nối dài dài những biểu hiện nghệ thuật hoặc non nớt, hoặc tầm thường, thậm chí thấp kém. Tình trạng “nghiệp dư” đó chỉ có thể, trong thời hiện đại, xây dựng một nền nghệ thuật nhợt nhạt, nhếch nhác. Bởi vì, như tác giả một bài viết mới đây (3) đã có nhận xét xác đáng: [……] “người ta chỉ gọi là chuyên nghiệp những ai đã đạt đến một trình độ tay nghề nhất định nào đó: một nhà văn (hay nghệ sĩ -ghi chú của VĐ) chuyên nghiệp có thể không phải là một tài năng lớn nhưng nhất định không thể là một kẻ vụng về, có thể vấp phải những khuyết điểm sơ đẳng trong lãnh vực sáng tác.” Bài viết này đã được kết thúc như sau: “Trong tương lai, sẽ còn vô số tài năng lớn khác tiếp tục bị hủy hoại khi tính chất nghiệp dư […] vẫn còn tiếp tục. Ở đâu (tại Việt nam -chú thích của VĐ) cũng bàng bạc một nỗi niềm nghiệp dư.” (3)

Nói thế không có nghĩa rằng tình trạng “chuyên nghiệp” trong cả nước tránh khỏi rơi vào những hầm hố nguy nan kể trên. Tính cách “chuyên nghiệp” có liên hệ mật thiết với đời sống kinh tế của người nghệ sĩ. Vì thế mà sinh hoạt nghệ thuật dễ bị chi phối bởi những đòi hỏi nhiều khi phi nghệ thuật của đám đông. Rồi cũng vì nhờ cái danh nghĩa “chuyên nghiệp” bảo đảm phần nào phẩm chất của người nghệ sĩ, hắn được đám đông chấp nhận, và tệ hại hơn, bắt chước.

Chuyên nghiệp và nghiệp dư, thật ra, là những hình thái có tính cách xã hội hơn là nghệ thuật. Chị A vẽ thì vẽ nhưng cứ kiễng chân nhìn vói qua sự an toàn nghề nghiệp và kinh tế của anh B, họa sĩ chuyên nghiệp. Trong khi ấy, anh B lại cứ trằn trọc tiếc nuối cái tự do mà anh đã có, mà chị A, họa sĩ nghiệp dư, đang có.

Làm nghệ thuật nghiệp dư là hình thái phổ thông trong những xã hội, nói chung, chậm tiến. Ngược lại, khi xã hội được canh tân, mở mang, khi các lãnh vực khác, ngoài nghệ thuật, cũng được phát triển mạnh mẽ và tổ chức có phương pháp, có qui củ, thì nảy sinh ra hiện tượng chuyên nghiệp hóa cả trong các ngành văn học nghệ thuật.

Riêng quê hương Việt nam của chúng ta, tình trạng nghiệp dư đã kéo dài quá lâu trong bóng đêm phong kiến, thuộc địa và chiến tranh. Nhưng rồi một ngày chúng ta cũng sẽ bước đến giai đoạn chuyên nghiệp hóa nền văn học nghệ thuật khi tình trạng chung, về chính trị, kinh tế, về pháp lý, giáo dục được nâng cao hơn, khi những tiêu chuẩn về tự do và dân chủ được tôn trọng hơn. Khi ấy, chúng ta sẽ có nghiệp đoàn văn sĩ, họa sĩ, nghiệp đoàn nhạc sĩ, v.v… Hệt như nghiệp đoàn của những người chuyên môn khác. Lúc đó, nghệ thuật sẽ đóng một vai trò khác với vai trò nó đã đóng trong quá khứ: nó được tiêu chuẩn hóa, và sáp nhập vào sinh hoạt chung của cả nước.

Làm nghệ thuật chuyên nghiệp hay nghiệp dư không phải là điều cốt tủy của cá nhân người nghệ sĩ. Phẩm chất của sự sáng tạo mới là mục tiêu tối hậu. Nói đến nghệ thuật là nói đến phẩm chất. Chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp, nói đến phẩm chất là đã xem người nghệ sĩ như kẻ có bổn phận đầu tiên, và trách nhiệm cuối cùng. Bổn phận đối với bản thân, và trách nhiệm đối với tha nhân.

 

Võ Đình

2002

(1) Văn Học số 160, tháng 8- 1999

(2) Thụy Khuê, “Vấn đề đoạn tuyệt với quá khứ để lên đường”, Hợp Lưu số 67, tháng 10 & 11, 2002

(3) Nguyễn Hưng Quốc, “Một nền văn học nghiệp dư”, Văn Học Việt Nam Từ Điểm Nhìn H(ậu H)iện Đại, Văn Nghệ, 2000. Tr. 334,344

nguồn

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s