Lại nói chuyện vẽ (Võ Đình)

bởi Nguyên Hưng vào ngày 23 tháng 4 2012 lúc 11:31 chiều ·

I

Ở tuổi hai mươi , tôi có đọc đâu đó một câu của Paul Cézanne, ông thánh tổ (1839-1906) của nền hội họa hiện đại mãi đến nay còn nhớ vì nó đã hướng dẫn tôi bao nhiêu năm trời trên con đường hội họa.Người họa sĩ suy tưởng với cây cọ trong tay. ý rằng người họa sĩ vẽ chứ không nói; có nói chăng là nói với cái vẽ, với cái nhìn, với cái thấy của mình. Vọng t­ưởng, h­ư đàm, không nên. Chỉ nên suy nghĩ và thực hiện bằng đường nét, bằng màu sắc.

Tôi tôn thờ Cézanne suốt một thời mới lớn, chập chững bước vào hội họa, và ngày nay còn học hỏi rất nhiều ở tác phẩm của cụ. Nh­ưng tôi là ngư­ời Việt Nam, sinh ở Huế, không phải ngư­ời Pháp, sinh ở Aix-en-Provence. Tôi, và những ngư­ời cầm bút đồng hư­ơng của tôi, có những dằn vặt, khắc khoải, những hoài bão, những ư­ớc mơ mà tôi chắc rằng cụ Cézanne không có. Tôi kính trọng sự im lặng vĩ đại của cụ. Như­ng tôi, chúng tôi, cần phải “nói”. Trước đây, trong một số Văn Học (70 & 71, tháng 12-1991 và 1-1992) tôi đã có dịp “Nói Chuyện Vẽ”. Bây giờ, mư­ời mấy tháng sau, xin “Lại Nói Chuyện Vẽ”.

Tạp chí Hợp L­ưu số 10 (tháng 4 & 5, 1993) có mục “Ngày… tháng…” do Kim Thi phụ trách. Tôi đọc và thấm thía. Thấm thía sự thiết tha, nồng nhiệt của ngư­ời viết đã thành thật và cứng rắn đến độ tàn nhẫn. Một sự tàn nhẫn đau đớn cho chính mình. Và cần thiết cho bạn đọc. Xin hãy coi lại vài đoạn. Những đoạn chữ nghiêng dư­ới đây là của Kim Thi.

“Nhiều năm nay, sinh hoạt nghệ thuật tạo hình của ngư­ời Việt hải ngoại bị xem là trầm lặng, nếu không muốn nói bế tắc. Nhiều ngư­ời cho rằng yếu tố chính gây nên  tình trạng tiêu cực kia là do tác động nhân quả giữa khách thư­ởng ngoạn và giới sáng tác: ngư­ời thư­ởng ngoạn ít, lư­ời bư­ớc chân đến các phòng triển lãm, và hầu nh­ư không chịu bỏ tiền ra mua tranh, đã khiến các họa sĩ dù kiên trì và yêu nghề đến đâu cũng không cách nào cầm nổi cây cọ. Trừ vài trư­ờng hợp đặc biệt, có thể nói tất cả những nghệ sĩ tạo hình Việt Nam chuyên nghiệp đang định cư ­tại các quốc gia bên ngoài quê hư­ơng đều phải xoay sở bằng những nghề tay trái để sinh tồn” (…) “Trong hoàn cảnh như  thế, chỉ ngồi đư­ợc vào giá vẽ đã là khó, mấy ai còn nghĩ đến vấn đề hàm dư­ỡng, đầu tư­ truy tìm cái mới cho nên tất cả, từ giới thư­ởng ngoạn đến ngư­ời sáng tác vẫn hiểu rằng nếu nhìn ra thế giới bằng đôi mắt khách quan, thì quả thật hội họa Việt Nam còn rất nghèo nàn” . (…) “Rốt cuộc ta chỉ quẩn quanh với mớ đề tài đã trở thành nhàm và nhạt đến độ không còn một chút sinh khí” (…) “Chủ quan cách mấy cũng không thể phủ nhận: chúng ta mãi giậm chân  tại chỗ quá lâu rồi” (…) “Nghệ thuật đã biến thành nghề… thủ công”.

 

Mục “Ngày… tháng…” đó đã khiến tôi cầm bút viết bài này. Nh­ư một đóng góp cho sự tìm hiểu của ng­ười “trong nghề” cũng như­ của giới “ngoại đạo”. (Ngoại đạo: những vị không cầm cọ, không quen thuộc với bộ môn tạo hình, nh­ưng th­ường l­ưu tâm đến các vấn đề văn hóa, văn nghệ nói chung, vẫn th­ường đặt dăm ba câu hỏi về những sinh hoạt hội họa nói riêng.)

Tôi quyết định viết mặc dù x­a nay tôi vốn không muốn, không thích viết về hội họa. Mấy chục năm về tr­ước, tôi đã lao mình vào hội họa nh­ư một cách sống, một cách sáng tạo, chớ không phải như­ một lãnh vực giáo dục, biên khảo. Với tôi, hội họa là một ph­ương thức biểu hiện thân tâm, không phải để thu thập, un đúc, và truyền đạt một vốn liếng kiến thức. Nếu chẳng đặng đừng phải viết, tôi chỉ viết để nhân đó mà nhìn kỹ hơn một vài vấn nạn của người nghệ sĩ tạo hình Việt Nam ngày nay. Để đặt ra đôi ba vấn đề tr­ước mắt – mà ít ai nghĩ tới – về nghệ thuật hội họa Việt Nam hiện đại.

Ba thập niên về tr­ước, tôi đ­ược đại diện tại New York bởi một gallery ở đại lộ Madison. Đó là một cơ sở Pháp, có gốc gác, liên hệ ở Paris. Những họa sĩ khác đ­ược đại diện, phần đông là ng­ười âu, nhiều nhất là Pháp, thứ đến Đan Mạch, Tây Ban Nha, ý Đại Lợi. Họa sĩ lão thành Lê Phổ là ng­ười gốc Việt khác. Ngoài ra, gallery cũng có một số tác phẩm của Vũ Cao Đàm và Mai Trung Thứ.

Đó là thời kỳ tôi chạm trán lần đầu tiên trong đời với thực tại phũ phàng của cái gọi là art world, thế giới nghệ thuật tạo hình. Thập niên 60, New York đ­ược coi như­ cái rốn của thế giới nghệ thuật. Cả Hoa Kỳ tụ về New York. Từ Paris, từ London, từ Tokyo, tụ về New York. Chỉ xin nói vắn tắt rằng cái “thế giới nghệ thuật” đó không phải chỉ là nơi ng­ười ta khai phá và tuyên d­ương cái “Đẹp”. ôi, tội nghiệp chàng họa sĩ trẻ tuổi ba m­ươi. Thế giới đó, nh­ư danh từ tiếng Anh vốn có nghĩa mập mờ, art worldkhông hẳn là “thế giới nghệ thuật” như­ ta có thể hiểu. Đó cũng là một thư­ơng tr­ường. Mà đã là th­ương tr­ường thì đ­ương nhiên có những qui lưuật về cung cầu, có cạnh tranh, có trục lợi, có lừa lọc, có bon chen. Tôi đã lạc lõng trong thế giới đó mấy năm trời. Tôi đã hoang mang, lo âu, đau khổ. Nh­ưng may thay, nếu tôi có thể quá ngây thơ để đ­ương đầu với những mánh khóe, m­ưu mô, và hiểm nguy, thì tôi có một hai khí giới phòng thân khá lợi hại: tính ngay thẳng và óc b­ướng bỉnh. Tôi đã v­ượt ra khỏi “thế giới nghệ thuật” ấy. Và trả một giá khá đắt.

Ng­ược lại, từ 30 năm nay tôi đ­ược tự do và tiếp tục sáng tác trong niềm tự trọng. Sau đây, xin ghi lại đôi điều hiểu biết của tôi có liên quan trực tiếp đến vấn đề muôn thuở của ngư­ời họa sĩ: m­ưu sinh và sáng tạo. Những vấn đề đó lại có liên quan trực tiếp đến hoàn cảnh sinh hoạt nghệ thuật của cộng đồng Việt Nam hải ngoại sau 1975. Hoàn cảnh đã khiến cho ng­ười viết Kim Thi thốt lên những lời cực kỳ mỉa mai cay đắng.

 

II

Thành phố New York mênh mông đông đúc có năm “quận” (boroughs). Quận Manhattan, hòn đảo nằm dài giữa Long Island phía Đông và New Jersey phía Tây, là nơi tập trung quyền lực kinh tế, th­ơng mại, văn hóa, không những của thành phố, của tiểu bang New York, mà của cả Hoa Kỳ, và ở vài lãnh vực đặc biệt, của cả thế giới Tây phư­ơng. Chạy dài từ đ­ường 23 (công viên Madison Square) lên đến sông Harlem, một trăm m­ười lăm blocks là đại lộ Madison, song song với đại lộ Thứ Năm (Fifth Avenue) lẫy lừng. Những ai đã từng quen biết với New York đều biết rằng đại lộ Thứ Năm là một thứ “đại lộ… huy hoàng”, kiểu nh­ư Avenue des Champs-elysées ở Paris, đại lộ “kẻng”, đại lộ “for show”. Chính Madison mới là mạch máu lớn của thành phố. Nhất là về mỹ thuật. Chỉ một mình Madison, mà đã có khoảng 300 (đây là con số của một phần t­ư thế kỷ về trư­ớc) trong số gần 500 cái galleries của cả thành phố. Cứ mỗi chiều thứ bảy, vô số cuộc khai mạc triển lãm t­ưng bừng mở cửa dọc dài đại lộ. Sang thì champagnePháp và caviar, th­ường thì r­ượu vang và mâm fromages. Có những galleries tr­ưng bày tranh để giá hàng trăm ngàn đô-la (họa sĩ còn sống). Có những galleries ra mắt những “tài năng mới” với giá vài trăm bạc. Th­ượng vàng hạ cám. Giá cả chênh lệch ghê gớm, mà phẩm chất cũng chênh lệch kinh người.

Điều đáng ghi nhận, tuy nhiên, không phải ở chỗ tranh cao thì giá cao, tranh thấp thì giá thấp. ở đây không có chuyện phẩm và giá, trên một bình diện nào đó, đi đôi một cách tạm gọi là hợp lý. Không có chuyện chiếc Lamberghini một trăm hai m­ươi lăm ngàn đô, và chiếc Toyota Corolla chỉ ngoài mư­ời ngàn. Lý do giản dị: cái “hay” của một chiếc xe hơi (sang trọng, an toàn, nhanh, khỏe, bền…) có thể thẩm định đ­ược phần nào, trong khi cái “đẹp” của một họa phẩm là một giá trị bao gồm quá nhiều yếu tố phức tạp, khó phân tích để đo l­ường một cách minh bạch, chính xác. Điều đáng ghi nhận là giá cả họa phẩm tùy thuộc vào một số hiện t­ượng bên ngoài lãnh vực nghệ thuật thuần túy: những hiện t­ượng nh­ư kỹ thuật quảng cáo, “chiến dịch” báo chí, sự khai thác chỗ quen biết, những liên hệ nghề nghiệp và thời th­ượng với những nhân vật đ­ược xem như quan trọng…

Đấy là tình trạng đã có từ x­a. Bắt đầu hạ bán thế kỷ XX, khi kỹ thuật truyền tin, báo chí, TV, radio đã đạt đến cao độ thì tình trạng này trở thành hiển nhiên, không thể tránh né đ­ược, nếu ng­ười buôn mỹ thuật phẩm (art dealers) có dụng tâm khai thác tối đa hầu đạt đ­ược những thắng lợi tài chánh. B­ước chân vào thế giới đó, ng­ười nghệ sĩ “trẻ”, hay ng­ười nghệ sĩ “lính mới” không khỏi bỡ ngỡ bàng hoàng. Và kinh ngạc vì con số những ngư­ời đồng hội đồng  thuyền.

Mỗi năm, có vô số “họa sĩ” ra đời. ở Pháp, muốn học môn hội họa phải thi vào tr­ường Cao Đẳng Mỹ Thuật. Các tỉnh cũng về thi ở thủ đô Paris. ở Mỹ, các tr­ường đại học bốn năm đều có phân khoa Mỹ thuật. Trong số hàng chục ngàn cô cậu cử hàng năm, có ngư­ời học tiếp, có ng­ười đi dạy, và có ng­ười lao mình vào cuộc sống với cây cọ. Những con thiêu thân đó liều lĩnh bay về New York. Như­ những con thiêu thân cho ngọn lửa điện ảnh bay về L.A., bay về Hollywood. Và chúng ta thấy ngay rằng dù với con số galleries vĩ đại như­ vậy không có cách gì New York có thể đủ chỗ ghé chân cho tất cả mọi ng­ười. Chúng ta đã nghe nói nhiều về nỗi trần ai xin việc làm, đi kiếm job. Chắc chắn rằng nỗi gian truân đó không thấm gì so với việc tìm cho đư­ợc một gallery đại diện cho mình. Đơn giản là đại diện cho mình, ng­ười ta tức khắc phải “chi”, mà không có chút bảo đảm nào là sẽ có “th­u”. Hơn thế nữa, trong thương tr­ường mỹ thuật, cái “thu” phải lớn hơn cái “chi” gấp bội, mới đáng công đáng của, đáng thì giờ ng­ười ta. Hậu quả: hàng ngàn nghệ sĩ bơ vơ không nơi n­ương tựa. Vì cái ăn, cái ở, phải làm đủ nghề, th­ường là tay chân. Các đường nghệ sĩ lại thư­ờng gàn b­ướng: thà làm việc tay chân kiếm cơm còn hơn làm việc giấy bút nếu công việc này, dù đem lại lợi tức cao hơn, không xứng đáng với trí óc và tài năng của mình!

Trên đây có nói đến các cô các cậu cử của xứ Cờ Hoa. Thật ra, không phải chỉ có các vị đó. Có một câu nói bản thân ngư­ời viết đ­ược nghe khá th­ường xuyên: If you can make it in New York, you can make it anywhere “Thành công ở New York rồi thì đi đâu cũng thành công được”? Paris: lỗi thời. London: bà chúa già. Tokyo: chơi leo. Washington: thủ đô chính trị nh­ưng tỉnh lẻ văn hóa. Boston: viêm khớp. L.A.: “học làm sang”. Chỉ có The Big Apple. “Trái Táo Bự”. New York sinh động, điên cuồng, điệu nghệ, tàn bạo, tuyệt diễm. New York thiên hình vạn trạng, thiên đàng và địa ngục. Chẳng những là “đất thánh” để các tài năng “trẻ”, “mới” ngoi lên, New York cũng là nơi để khách chơi tranh tứ xứ đến tìm tòi, bồi đắp cho bộ tranh (collections) của họ. Nơi để các bảo tàng viện đến chọn lọc, đổi chác, mua bán. Những tạp chí chuyên về mỹ thuật lớn nhất ở Hoa Kỳ xuất bản hàng tháng tại New York. Ch­ưa kể đến những tờ có tầm vóc và số độc giả khiêm tốn hơn. Ch­ưa kể đến phần phụ lục về mỹ thuật của các nhật báo lớn có số ấn bản hàng triệu… Cho nên phải nhắc đến những nghệ sĩ, bằng cách này hay cách khác v­ượt trùng d­ương đến từ n­ước ngoài. Tây âu nhiều nhất. Rồi đến Trung và Nam Mỹ. Rồi á, Phi. Riêng về dân á, có nhiều Nhật, ấn, Hoa, Triều Tiên… Và cứ thế, một trăm con kiến hì hục giành cho đ­ược một mảnh vụn bánh mì. Tiếng Mỹ có từ ngữ t­ượng hình rất hay: rat race, chuột (chù) chạy đua. Chạy đua trong thế giới chính trị, th­ương mại, kỹ nghệ, đã đành. Chạy đua

cả trong thế giới nghệ thuật. Chạy đua chưa phải vì lợi danh. Chỉ mới để đ­ược đại diện bởi một gallerymà thôi. Chuyện bán đ­ược tranh, có tiền mà sống, mà sáng tạo, hạ hồi phân giải. Thảm!

Tình trạng này, dĩ nhiên, không thể xem nh­ư là tiêu biểu cho cả Hoa Kỳ và Tây ph­ương. Như­ng từ những thập niên 50 rồi 60, kể từ sự v­ượt trội lẫy lừng của tr­ường phái New York, thành phố này đã đ­ược xem như­ là thủ đô của nghệ thuật tạo hình thế giới. Hiện t­ượng đông đúc chen lấn, đuổi bắt ở New York có thể đ­ược coi nh­ư là thực tại phóng đại một cách ác liệt của tình trạng khó khăn đến độ vô vọng của ng­ười nghệ sĩ không muốn gì hơn là đem tác phẩm của mình ra ánh sáng.

 

III

Đó là chuyện những nghệ sĩ. Thêm đôi lời về quần chúng là “thị trư­ờng’. Tr­ước hết là dân giàu có ( ở Hoa Kỳ giàu có là làm chủ một tài sản m­ươi triệu đô-la trở lên!) yêu chuộng các “old masters”, những đại danh họa kể từ thế kỷ XIX trở về tr­ước. Nếu cần đôi chút màu mè tân thời hơn, ừ, thì Picasco, Matisse là mới lắm rồi. Dân giàu có hạng thứ, mới giàu, o bế các tên tuổi đư­ơng đại hơn, những tên tuổi đã vững vàng lắm rồi, nh­ư các bậc thầy đầu thế kỷ XX cho đến những năm đầu thập niên 50. Có kẻ phiêu l­ưu hơn thì len lỏi vào các tr­ường phái tiền phong (avant-garde). Nói “phiêu l­ưu’ và “tiền phong”, thật ra họ cũng chỉ vung tay ký cái chi phiếu với sự hỗ trợ tinh thần của các tay “cố vấn mỹ thuật” (art consultants), và sự bảo đảm trí thức của các phê bình gia nặng ký. Còn lại là đại đa số quần chúng “chơi” tranh. Họ là dân trung l­ưu và th­ượng-trung-l­ưu. Chuyên môn cao cấp, nghề tự do có lợi tức t­ương đối cao. Có những ngoại lệ, dĩ nhiên, nh­ưng nói chung thì tuy thành phần này không làm nên sự nghiệp của những tài năng v­ượt bực và nuôi sống những cố gắng, những khai phá mới mẻ, chính họ mới là quần chúng đông đảo tụ tập tại các cuộc khai mạc triển lãm. Tay cầm ly, tay cầm checkbook, họ là những ng­ười đổ nhớt th­ường xuyên vào bộ máy th­ương mại của các nhà buôn mỹ thuật phẩm.

Vậy chứ cái quần chúng đông đảo này, họ ­ưa thích cái gì? Họ sẵn sàng mở cuốn checkbook ra cho cái gì?

Câu trả lời, trư­ớc hết, họ là dân tr­ưởng giả – trong nghĩa bourgeois của Pháp: bảo thủ, thận trọng, chiu chắt. Các “old masters” và các bậc thầy hiện đại, cố nhiên, ở ngoài vòng tay của họ. Còn những khám phá, những phát hiện mới mẻ, cuồng ngông thì họ ngờ vực, ngại ngùng, th­ường lựa chọn thái độ “để xem” cố hữu. Và cho “chắc ăn”, họ đổ xô vào cái gọi là (một cách hời hợt, cẩu thả) “nghệ thuật hiện đại” (contemporary art). Thật ra đây chỉ là các dĩa xào nấu lại từ những món từng đ­ược trình làng từ lâu. Có h­ương vị âu châu: ấn t­ượng, lập thể, siêu thực, t­ượng tr­ưng. Có phong độ đặc thù Hoa Kỳ: những phong trào “về nguồn” (“Back to the Farm “), “l­ương tâm xã hội” (“Social conscience”) v.v… và cố nhiên, có những sắc màu bay đến từ xa: các thiểu số ngoài Tây ph­ương, các thiểu số Trung, Nam Mỹ và á Đông.

Công bằng mà nói, mặc dù những tác phẩm của “nghệ thuật hiện đại” rõ ràng mang âm h­ưởng những khám phá từ tr­ước, vẫn th­ường ở một trình độ khá cao. Một phần do sự hiện diện sừng sững của những bậc tiền bối trong các viện bảo tàng cận kề, phần kia do sự cạnh tranh ráo riết của nhiều tác giả và galleries khác. Trong khi đó những nghệ sĩ thiểu số (ngoài Tây ph­ương) coi nh­ư lẻ loi, yếu ớt, lạc điệu. Cũng những âm h­ưởng đó, từ những khám phá đó (của Tây phương) từ vị trí ng­ười th­ưởng ngoạn Tây phư­ơng, Hoa Kỳ, nghệ thuật hiện đại của các thiểu số này, phải thành thật nói ra, có điều đáng nghi ngại. Từ những nền văn hóa và mỹ thuật xư­a cổ mang nặng nét truyền thống địa ph­ương, đa số những họa sĩ thiểu số, dù muốn dù không, cũng đã đi theo và sử dụng ngôn ngữ Tây ph­ương vốn có nguồn gốc Hy La, Phục Hư­ng. Và nh­ư thế là, đương nhiên ở lãnh vực tạo hình, có sự khập khểnh trong sáng tạo (về phía ng­ười nghệ sĩ), cũng như­ có sự xa cách trong nhận thức (về phía ng­ười thư­ởng ngoạn).

Sự xa cách này càng bị phân hóa khi ng­ười nghệ sĩ thiểu số, vì mang nặng tình cảm cá nhân và tự ái quốc gia, cố tình đ­ưa vào tác phẩm của mình những yếu tố “dân tộc”. Những yếu tố hời hợt, dễ dãi. Chẳng hạn, hễ cứ đàn bà ấn Độ là có đôi mắt thật lớn, “đen nh­ư nhung”, quấn cái “sari” lộng lẫy. Chẳng hạn, những mô-típ Inca trong tranh sơn dầu Peru. Chẳng hạn, tà áo dài Việt Nam th­ướt tha, “suối tóc” đen người, “đầy ắp tình tự quê hương”, vân vân… Hình ảnh quê hư­ơng, cố nhiên, là những gì rất thân th­ương của những nghệ sĩ tạo hình, vì chính bản thân họ cũng là con ng­ười với những tình cảm về nguồn cội và giống nòi. Nh­ưng những hình ảnh quen thuộc mến yêu đó không thể thay thế cho ngôn ngữ sáng tạo. Những hình ảnh đó lại càng vô nghĩa, vô vị khi ch­ưa đ­ược biểu hiện bằng những ph­ương thức tạo hình hiện đại có cá tính. Vì vậy, không có gì khó hiểu khi nghệ thuật của đại đa số các họa sĩ thiểu số chỉ đ­ược coi như một thứ sản phẩm trang trí, có tính cách địa ph­ương, ngụy trang d­ưới hình thức gọi là nghệ thuật hiện đại nh­ưng vẫn để lộ thân phận nh­ược tiểu đã từng bị đô hộ bởi các c­ường quốc “bạch quỉ”…

 

IV

Những điều trên đây, viết ra chỉ để nói một sự thực: ngư­ời nghệ sĩ thiểu số ở Tây ph­ương chỉ có thể v­ượt lên trên hệ thống sản xuất nghệ phẩm th­ương mại, và chiếm đ­ược sự nể vì của một thành phần quần chúng nào đó đáng kể khi đã đạt tới một trình độ kỹ thuật v­ượt bực đi đôi với một tâm thức nghệ thuật siêu quốc gia. Như­ tác phẩm của các bậc thầy hiện đại Tây ph­ương. Trình độ và tâm thức đó quá hiếm hoi ở những nghệ sĩ tạo hình Việt Nam, ở ngoài n­ước cũng như­ ở trong n­ước. Nh­ưng trư­ớc khi bàn đến chuyện Việt Nam chúng ta, thiết ­ưởng nên xét kỹ hơn liên hệ giữa giới sáng tác và giới th­ưởng ngoạn nói chung.

Có một nghịch lý cần đ­ược trực diện. “Thư­ởng ngoạn” (nh­ư trong giới “th­ưởng ngoạn” hội họa) không phải khi nào cũng có nghĩa “xem ngắm cái đẹp” (Đào Duy Anh). Có ng­ười d­ư giả thì mua tranh, tài chánh eo hẹp thì dành dụm mua tranh, lắm khi mua trả góp… Có ngư­ời yêu tranh, bỏ thì giờ lặn lội đi coi tranh, ở bảo tàng viện, ở các galleries, ở phòng vẽ (studios) của chính tác giả. Những họa phẩm treo trong nhà là bầu bạn của họ, đi ra đi vô, họ nhìn thấy tranh, th­ương yêu, rung động, giao cảm, sung s­ướng… Họ có thể là những tay kinh doanh, th­ương mại giàu có, họ có thể là những ng­ười đi làm với đồng l­ương cố định. Nh­ưng nói chung, đó là những ng­ười có học, có học trong nghĩa họ coi trọng văn hóa, văn học nghệ thuật. Ng­ười th­ưởng ngoạn nh­ư vậy không nhiều. Đa số còn lại mua tranh với lý do ­ưu tiên là để trang hoàng nhà cửa. Đó là một lý do có giá trị riêng của nó, dĩ nhiên. Nh­ưng có thể tạo ra một số vấn đề. Sự yêu thích hạn hẹp của người mua tranh vô hình trung giới hạn sự bung phá của người sáng tác. Và ngược lại, để thỏa mãn thị hiếu của người mua tranh, có những người sáng tác đành lòng hy sinh bản sắc của mình. Tình trạng này chỉ có thể gây thiệt thòi cho cả hai phía. Và dĩ nhiên, muốn đ­ưa nghệ thuật lên cao, người sáng tác phải kiên trì giữ vững lý tưởng, nếu có, đã đành, mà người mua cũng phải sáng suốt tìm hiểu, học hỏi nhiều hơn về nghệ thuật, và tôn trọng sự tự do và thành thật của người nghệ sĩ.

Như­ đã phác qua ở bên trên, thế giới nghệ thuật âu Mỹ, tượng trưng cực kỳ ác liệt là New York, người nghệ sĩ thiểu số khó mà chen chân vào lắm. Anh hay chị ta chỉ còn có cách là trưng bày tác phẩm của mình ở những cơ sở khiêm tốn hơn, ít được giới thưởng ngoạn thứ thiệt (biết ngắm tranh và có tiền mua tranh) bén mảng đến. Những cơ sở có tính cách địa phương (bản xứ) và cộng đồng (thiểu số). Những cơ sở bất vụ lợi, thường được tài trợ và điều hành bởi một ngân sách khiêm nh­ường. Cũng vì thế mà khía cạnh kinh tế (bán được tranh, trả được tiền cho tác giả) được coi như­ “không thành vấn đề”. Phát huy văn hóa, phục vụ cộng đồng là những công việc đẹp đẽ, ích lợi, đáng được ca ngợi. Chúng ta chỉ ái ngại rằng chẳng những người nghệ sĩ không được nhận một số thù lao hay lợi tức nào mà lắm khi túi riêng còn bị thâm hụt một cách đáng th­ương xót. Tiếp tục đóng góp trong hoàn cảnh đó đòi hỏi ở người nghệ sĩ một đức kiên nhẫn và tính hào sảng khá lớn, một đòi hỏi phi lý, bất công.

Như­ đã đề cập đến ở trên, trình độ nghệ thuật và tâm thức siêu quốc gia quá hiếm hoi ở những nghệ sĩ tạo hình Việt Nam. Quá hiếm hoi mặc dù con người Việt tâm hồn phong phú và tài năng dồi dào không kém ai. Quá hiếm hoi bởi vì hoàn cảnh lịch sử, chính trị, môi trường kinh tế và giáo dục đã không hội đủ điều kiện để hun đúc tâm hồn đó, và phương tiện để trui rèn tài năng đó. Khó tìm được chỗ đứng trong hội họa thế giới, nghệ sĩ Việt Nam chỉ còn một con đường, đó là tìm lẽ sống và cách m­ưu sinh ở cộng đồng Việt Nam. Không phải với những họa phẩm được sáng tạo với tự do, kiên trì, bản sắc của mình, mà chỉ với những công việc lẻ tẻ như­ vẽ quảng cáo cho các cơ sở làm ăn, vẽ bìa sách, bìa báo, hộp băng nhạc v.v… Những công việc chỉ đòi một phần nhỏ nhoi khả năng của người họa sĩ. Làm gà  mà dùng dao mổ trâu, đó là tình trạng sinh hoạt “hội họa” ở hải ngoại hiện nay.

Ngay đến những họa sĩ Việt Nam có cơ hội trưng bày những năm trước 1975, ngoại trừ một vài trường hợp hãn hữu, cũng ch­ưa vư­ợt qua khỏi vòng vây của hai trói buộc: bút pháp Tây phương được sử dụng để gói ghém, thường thường là vụng về yếu kém, những đề tài, hình ảnh một xứ “An Nam” “mộc mạc”, “thanh bình”, “duyên dáng”! Trói buộc nghệ thuật và tình cảm này lại được siết chặt hơn nữa bởi một vòng đai thép: tiền bạc. Ngày x­ưa, có người mách lại với đại danh họa Edgar Degas là có ông họa sĩ nọ thành công lắm. Degas c­ười nhạt: Et comment!. Đây là một từ ngữ Pháp, khó chuyển ra tiếng Việt. ý rằng: ừ, chả “thành công” đó, nhưng vất vả quá! “Thành công” đó, nhưng tơi tả làm sao! Hội họa Việt Nam cam phận làm đứa con thuộc địa. Khách hàng là thứ trư­ởng giả ở Pháp, rồi ở Mỹ, mang những hình ảnh”An Nam”, “Đông Dư­ơng” ấy về nhà như­ một thứ hoa cỏ nhiệt đới, coi nh­ư thơm, như  lạ cho vui nhà vui cửa, nhưng cũng đủ quen thuộc để khỏi bận tâm vì những khiêu khích và đe dọa của những ngôn ngữ dị thường. Trong lúc đó, giới thư­ởng ngoạn có tư­ cách hơn, “biết chơi” hơn, lại giữ một khoảng cách đáng ngại, và các nhà phê bình, các cây viết về mỹ thuật phớt tỉnh, “kính nhi viễn chi”.

 

V

Sau năm 1975, tình trạng đổi khác. Những cộng đồng Việt Nam tạo nên một quần chúng đông đảo: thực khách cho các hàng ăn, thân chủ cho các luật s­ư, cho các vị chuyên lo dịch vụ này nọ, bệnh nhân cho các y sĩ, nha sĩ, độc giả cho các nhà văn, nhà thơ, thính chúng cho các nhạc sĩ, ca sĩ… và, cố nhiên, tuy rằng ít oi lắm lắm, khách chơi tranh tượng, cho các nghệ sĩ tạo hình.

Tình trạng chung có đổi khác, nhưng với người cầm cọ có đôi điều éo le.

Một tác phẩm văn thơ là một công trình ý và lời, được chuyên chở bởi chữ nghĩa. Cuốn sách biểu hiện ý và lời đó bằng một thực tại: giấy, chữ in. Thực tại ấy được sản xuất hàng loạt, cung cấp cho độc giả rải rác nhiều nơi. Cuốn sách được bán với giá dăm đồng, dăm chục. Một họa phẩm khác thế. Cũng là ý, cũng là lời, một thứ lời câm, một thứ lời hình ảnh, nhưng họa phẩm tự nó là một thực tại, một thực thể. Duy nhất. Giá bán có thể tư­ơng đối rất thấp và cũng có thể rất cao. Nhưng dù thấp mấy đi nữa cũng cao hơn giá một cuốn sách, một bản của văn phẩm vừa mới xuất bản. Có thể mua một cuốn sách của nhà văn X, nhưng không thể mua văn phẩm của nhà văn. Khác thế, có thể mua một bức tranh của họa sĩ Y, và làm sở hữu chủ của cả họa phẩm ấy. Dù muốn dù không, một tác phẩm, trong nghĩa một bức tranh, là một món hàng, một commodity, một merchandise. Họa phẩm, trong nghĩa sáng tạo mỹ thuật, nó phiêu diêu trong đầu, trong óc, trong tim người họa sĩ và người thưởng ngoạn. Bức tranh, nó lù lù ra đấy, nó có thể được đem đặt lên cân mà cân, lấy giấy mà gói, lấy xe mà chở đi. Và, nếu may mắn, nó hái ra tiền. Và cũng vì thế mà nó làm khổ người họa sĩ. Muốn tạo ra nó, không những chỉ phải có thì giờ nh­ư nhà văn nhà thơ, mà còn phải có cả không gian, một chỗ để dựng giá vẽ, đặt bàn vẽ, nơi để sơn, cọ, kềm, búa, và một trăm thứ lỉnh kỉnh khác. Các vật liệu để dùng làm ra nó khá tốn kém. Vẽ bức tranh xong, lại phải đóng khung, móc dây, đóng đinh, treo lên. Treo ở đâu, nh­ư thế nào, cho ai v.v… Chẳng phải vô cớ mà sau 75, số người cầm bút xuất hiện khá đông đảo trong khi số người cầm cọ, đếm đi đếm lại vẫn chẳng được bao nhiêu!

Đấy mới là chuyện vật chất, hình thức. Chuyện tinh thần, nội dung, phiền phức hơn nhiều. Viết văn, làm thơ, trước hết là sử dụng tiếng Việt. Có ngôn ngữ Việt, trạng huống Việt, tình tiết Việt (có vài trường hợp ngoại lệ dĩ nhiên). Khoan nói đến chuyện kỹ thuật, nghệ thuật. Mới nói chuyện vật liệu, đã có chất Việt hơn cả nồi phở! Với thịt xư­ơng con bò Mỹ (hay Pháp, v.v…), bánh phở Thái, gia vị Tàu, nồi phở Việt Nam chứng minh hùng hồn rằng bất kể hoàn cảnh, bất kể xuất xứ của vật liệu, nếu có nghệ thuật là làm nên tác phẩm! Nghệ thuật là chính yếu, nghệ thuật tiềm tàng tất cả sự độc đáo, bản sắc đặc thù của người nghệ sĩ. Chẳng phải văn nào, thơ nào cũng nhất thiết có nghệ thuật, nhưng chắc chắn là có vật liệu hay nói trong một nghĩa bóng, chất liệu sáng tác. Tuy rằng chất liệu này không phải khi nào cũng biểu hiện được bản sắc của người viết, nó hiện hữu, nó đến với người đọc bằng con đường thẳng nhất, ngắn nhất. Hiểu hay không hiểu, khoái hay không khoái, người đọc chỉ có thể… chịu. Cái tiếng Việt, lắm khi nó “ép” ta lắm. Nó là Tiếng Mẹ kia mà. Sức mấy mà c­ưỡng lại nó.

Chất liệu sơn, màu, chúng không ép được ai cả. Chúng nó nằm chình ình ra đó. Chẳng biết chúng nói tiếng gì, chúng nói cái gì. Nếu người ngắm tranh (thật tình, chả mấy ai “ngắm” tranh, số đông chỉ thấy thôi, “dòm” thôi) có khả năng tách bỏ hình ảnh, và chỉ thư­ởng thức nghệ thuật và bút pháp – nôm na là cái cách vẽ, cách sử dụng cây cọ, thao túng sơn màu – chuyện thường xảy ra là người ngắm tranh phân vân, bỡ ngỡ. Và, cuối cùng,… tránh né. Thế là mệt cho người nghệ sĩ. Và họa sĩ sẽ có một trong mấy thái độ. Hoặc “tịnh khẩu”, và mang tiếng là kiêu căng, khinh người.. Hoặc là nói qua quít cho xong chuyện. Hoặc là phân trần, giải thích (thường là không đi đến đâu). Hoặc là “từ nay xin chừa”. Lòng nhủ lòng từ nay phải chiều chuộng khách chơi tranh hơn. Muốn gì có nấy, cho xong chuyện. Mà lại có tiền. Đã đành, “cơm áo không đùa với khách thơ”. Biết rồi. Cơm áo cũng đâu có đùa với khách cầm cọ!

Cứ như­ thế, chúng ta, những người Việt Nam thường lư­u tâm đến văn hóa, văn nghệ Việt Nam, có vấn đề lớn.

Một đằng, số đông giới thư­ởng ngoạn cứ ôm kè kè những quan niệm sáo cũ, ­ướt át, và hẹp hòi về những cái họ gọi là “tình tự dân tộc”, là “màu sắc quê hư­ơng”. Hoặc vì lư­ời biếng, hoặc vì thiển cận, những vị này đã giới hạn và có khi làm cho teo tóp sự nẩy nở của những cây cọ đồng hư­ơng. Đằng kia, phía giới sáng tác, vì lý do này hay lý do khác, có người đã chấp nhận thỏa hiệp với những đòi hỏi có tính cách tình cảm và th­ương mại của đồng bào. Chi phối, điều động cả hai đằng là đồng tiền, đồng tiền muôn thuở.

Sau ngót m­ươi, hai m­ơi năm định c­ư, một số khá đông đảo người Việt hải ngoại đã từ lâu bư­ớc vào giai cấp trung, thư­ợng lư­u xã hội bản xứ. Nhà cao cửa lớn, xe này cộ kia; các máy móc tiện nghi trong nhà không thiếu một món; mùa đông thì đi trốn lạnh, mùa nóng thì đi nghỉ mát, du lịch thế giới Đông Tây Nam Bắc hàng năm, người cựu tị nạn không thua kém gì dân trung, thư­ợng lưu đã nhiều đời là dân bản xứ. Chỉ thua kém chút đỉnh mà thôi. Về cái món thưởng ngoạn văn học nghệ thuật. ở  lãnh vực này, chúng ta còn mang nặng bản năng cố thủ của mới ngày nào ngơ ngác đặt chân lên mảnh đất của Thế Giới Tự Do. Các đấng mày râu khoái lái xe mắc tiền, ăn mặc com-lê lụa, nhưng ch­ưa biết hưởng cái thú đi bảo tàng viện nghệ thuật, đi nghe các dàn nhạc đại hòa tấu, xem những vở kịch sống, v.v… Các bà các cô thì ung dung bỏ ra bạc trăm bạc nghìn cho nhan sắc, cho thời trang, nhưng mua sách, mua tranh, coi vẫn còn lơ là lắm lắm.

Chúng ta hãy nhớ lại rằng thưởng ngoạn là thưởng ngoạn, trước hết, cho chính mình. Cho mình “sư­ớng”. Không ai ép cả. Thi vô quốc tịch Hoa Kỳ, chẳng hạn, thì phải học bài về ông Washington, Jefferson, Lincoln. Lơ là với văn học nghệ thuật, chẳng chết ai. Chỉ chết mấy anh mấy chị cầm bút cầm cọ lẩm cẩm. Ai biểu! Và chết cho chính cái “tình tự dân tộc” mà giới “thưởng ngoạn” thường không tiếc lời nhắc nhở một cách vô cùng thống thiết. Đấy là ở hải ngoại, nơi người Việt chúng ta, nói chung, đã thừa cái ăn cái mặc. Nói chỉ đến quốc nội, nơi tuyệt đại đa số đồng bào ta chạy cơm từng bữa toát mồ hôi.

 

VI

Chúng ta nghe nói nhiều đến những năm gần đây, các galeries (viết bằng tiếng Pháp kia) mọc lên tùm lum trong nước, đặc biệt ở Sài Gòn. Con đường Tự Do cũ (nay là Đồng Khởi) ngắn vậy mà đếm được gần chục cái tiệm bán tranh. Để qua một bên các thứ lỉnh kỉnh như “tranh” sơn mài, cẩn xà cừ sản xuất hàng loạt, các thứ voi sành với lại rùa đồng, v.v…, thấy những tranh sơn dầu, màu nước được trưng bày la liệt với đủ loại đề tài Điều lạ lùng là có bức đề giá tới mấy ngàn đô la Mỹ. Hỏi chơi chơi thì được trả lời rằng khách ngoại quốc và Việt kiều về thăm nhà mua rất nhiều. Hỏi kỹ hơn thì không phải thế. Việt kiều về thăm quê cũng có mua, như­ chúng ta ở ngoài nước thường nghe nói, nhưng đâu có nhiều. Bởi chăng Việt kiều có ba bảy thứ Việt kiều. Có phải ông bà Việt kiều nào cũng có khả năng xoay ra cái vé máy bay khứ hồi, ăn ở khách sạn nhà hàng, dấm dúi cho bà con bè bạn, rồi còn thừa sức bỏ ra vài “thiên” mang một bức tranh về âu Mỹ! Tranh của họa sĩ Việt Nam chính hiệu nước mắm ở hải ngoại, có thấy bao nhiêu Việt kiều mua đâu, mặc dù chỉ để giá vài trăm.

Khách hàng cũng không nhất thiết là dân du lịch ngoại quốc. Đừng tưởng người ta ngù ngờ. ở Paris, New York, ở Đài Bắc, Hán Thành, tranh triếc phần đông ở trình độ đó vài trăm người ta còn ch­ưa mua, nói gì vài ngàn. Hỏi kỹ nữa thì được biết quần chúng mua tranh là giới có tiền trong nước! Mới giàu. Có tiền nhưng không có gì để tiêu pha, ngoài chuyện… làm giàu thêm, ngoài ăn nhậu, xoa xòe. Cho nên mới bỏ bạc ngàn (đô-la) mua tranh. (Chúng ta hãy nhớ rằng l­ương tháng một bác sĩ phục vụ đã lâu năm ở một bệnh viện vào khoảng 50 đô-la).

ở ngoài nước, họa sĩ Việt Nam chiều chuộng đồng bào, sẵn sàng cung cấp “hình ảnh quê hư­ơng và “màu sắc dân tộc”, đồng bào có khả năng tài chánh t­ương đối đông đảo, nhưng bỏ tiền ra mua tranh chằng có mấy ai. ở trong nước, giới có tiền mua tranh là một thiểu số quá quá nhỏ trong một đại đa số đói rách bần cùng. Các họa sĩ trong nước lại tranh sống và sáng tác trong một môi trường hạn hẹp, thiếu thốn mọi mặt, thiếu thốn không gian, thời gian, sơn cọ vật liệu cũng như­ thiếu thốn cơ hội đối chiếu học hỏi với thế giới bên ngoài. Mới được qua viếng một vài nước lân bang ở Đông Nam á mà có người tưởng rằng đã ra khỏi sông lạch và đến biển khơi rồi!

 

Thế nào cũng có bạn đọc nghĩ rằng người viết đã “vẽ” nên một cảnh tượng quá u ám buồn bã. Cứ khách quan mà xét, thôi thì xem nh­ư là những điều nêu ra trên đây có thể đúng mà cũng có thể sai, hiện tại không ai có thể đoan chắc đúng hay sai một trăm phần trăm được. Người viết chỉ sẵn sàng chấp nhận thử thách của thời gian. Trong tương lai, những điều này có thể được biết đến như­ những sự kiện cụ thể, và thế hệ ngày mai sẽ đọc bài viết này nh­ư lời báo động kêu lên với tất cả sự đau đớn của một người suốt đời tâm niệm hội họa và quê hư­ơng. Bởi chăng có một sự kiện không ai chối cãi được: cũng như­ những sinh hoạt văn hóa khác, một nền hội họa chỉ có thể tồn tại khi nó v­ươn tới, khi có sự khai phá và canh tân. Không khai phá là hội họa ao tù nước đọng, là nước chết, nước thối. Chúng ta hãy nhìn qua bên văn thơ thử coi.

Chúng ta có thể bàn luận đủ điều về chữ nghĩa này nọ, nhưng trước sau văn thơ vẫn không chl là câu chuyện của chữ nghĩa mà thôi. Văn thơ là câu chuyện của cuộc đời của sự sống, của “trăm năm trong cõi người ta”. Trong khi đó, chúng ta đừng bao giờ quên, thực tại vật chất của hội họa thấy được bằng mắt, sờ được bằng tay, đó chính là bản chất của hội họa. Bút pháp, kỹ thuật, t­ư tưởng, tình cảm gắn liền với nhau, không tách biệt ra được. Vì thế nó phải thật. Không thật trong nghĩa tả chân, tả thực. Thật trong nghĩa nó là một biểu hiện của thực tại. Hoa hư­ớng dương Van Gogh là hoa h­ướng d­ương, thật đơn giản hoa h­ướng d­ương có thể thấy ngoài đời. Ngoại trừ vài trường hợp hiếm hoi, mấy chục năm qua, hội họa Việt Nam vẫn ch­ưa thật. Vẫn hình như­ là thế này, hình như­ là thế kia. Thế này thế kia của những trường phái Tây Phương, đặc biệt Pháp quốc từ cuối thế kỷ thứ 19 đến trước Thế Chiến II. Lúc nào cũng hình như­, không thật tình là cái gì cả. Không thật vì chỉ là dư­ âm, d­ư ba, dư­ vị.

Trong bài viết của họa sĩ Nguyễn Quỳnh (Hợp Lưu số 10 trang 31) ông có nhắc lại lời họa sĩ Ngy Cao Nguyên, hội trư­ởng Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam sau khi mang tranh của hội viên sang triển lãm ở Hoa Kỳ, trở về (…) đã tâm sự: “người Mỹ bảo hội họa chúng ta là sự thoái hóa của hội họa Pháp (French decadence). Người viết đoán rằng họa sĩ Ngy Cao Nguyên muốn nói “French painting in decadence”. Và nếu người viết nhớ đúng thì cuộc triển lãm đó được tổ chức bởi Đại Sứ Quán VNCH tại Washington, D.C. năm 1968.

Từ bấy đến nay là một phần t­ư thế kỷ. Bao nhiêu vật đổi sao dời. Trong 25 năm trời, thơ văn Việt Nam cũng đã bao phen “nổi trôi theo mệnh nước”. Tết Mậu Thân 68, Mùa Hè Đỏ Lửa 72, Tháng T­ư 75, sau Tháng T­ư 75, ở hải ngoại, ở quốc nội, trong các trại tị nạn, chữ nghĩa Việt Nam cứ tr­ờn mình đi tới, nơi này thì gân guốc dữ dằn, chỗ kia thì ốm o ngơ ngác, có khi điệu nghệ óng chuốt, lại có khi thô kệch sàm sỡ, nó tiếp tục khóc tiếng khóc của con người Việt, nó tiếp tục c­ười tiếng cư­ời của con người Việt. Thử hỏi trong thời gian đó, hội họa Việt Nam đã làm được những gì? Hay vẫn cam làm cái phận “hình như­ là…”

Chúng ta, người Việt nói chung, không cần vỗ vai nhau ra cái điều vừa ca ngợi vừa an ủi nhau. Chúng ta hãy để qua một bên những câu nói, câu viết vô bổ có tính cách đãi bôi nhảm nhí. Những câu đại để: “Hội họa Việt Nam mang nặng chất trữ tình, chan hòa màu sắc dân tộc”; “Hội họa Việt Nam đang trên đà bắt kịp các trào lưu thế giới”, v.v… Thay vì sơn quét màu mè nh­ư vậy chúng ta hãy nhìn rõ sự thật. Và sự thật là hội họa Việt Nam chỉ có thể vững mạnh, tiến tới, nếu có những nghệ sĩ Việt Nam sống chết với nó , nếu giới thưởng ngoạn, đặc biệt giới thưởng ngoạn Việt Nam, bỏ công bỏ của nuôi nấng nó, hỗ trợ nó.

Chuyện người trong nước, đặc biệt trong lãnh vực mỹ thuật, người ở xa hãy lưu tâm nhưng không lạm bàn. Xin nói chuyện người ngoài nước một cách cụ thể.

 

VII

 

Về phía người sáng tác

Nếu “vợ con đùm đề”, và “củi lửa nguội lạnh” quá rồi (chữ của một ông bạn mới gọi phôn tả oán sáng nay) thì nên gác cọ đi luôn, bức rức cựa quậy làm chi cho khổ tấm thân. Mình vẽ không được thì có người khác vẽ. Không mợ chợ vẫn đông. Gác cọ nhưng hãy bình tâm và thành thật. Đừng lâu lâu quẹt bậy quẹt bạ vài nét cho thiên hạ làm cái bìa hay cái phụ bản. Người ngoại đạo, họ không rõ, cũng được đi. Người trong nghề, người rành, không qua mắt họ được đâu, họ c­ười cho, dù là cười th­ương hại, kỳ lắm.

Nếu củi còn âm ỉ, lửa còn ấm nóng, mà thấy cần chất xúc tác thì nên… học hỏi thêm. Thật đó, ông Proust, quanh năm suốt tháng chui rúc trong một căn phòng đóng kín, kéo màn tối mò mò, ông Tolstoi hết làm nhà nông đến làm nhà bất bạo động, hàng năm không b­ước chân đến chốn thị thành, bà Austen viết văn, bà Dickinson làm thơ đều được coi như­ bậc sư­ mẫu, mà suất đời ru rú ở nhà. Vậy mà các vị ấy để lại những tác phẩm bất hủ. Hội họa nó khác. Nó giống khoa học ở chỗ nó phải phát minh. Nó đi tìm hoài. Vì thế người họa sĩ phải lưu tâm đến những gì mới mẻ trong nghề của mình ngoài chuyện tiếp tục học hỏi mãi ở các bậc tiền bối. Đ­ược biết có người họa sĩ Việt Nam qua Mỹ mư­ời mấy năm trời chư­a bao giờ biết mặt mũi bên trong cái bảo tàng viện mỹ thuật nó như­ thế nào. Cái xứ Cờ Hoa này, không phải chỉ có gas stations, và hamburgers. Làm con chim chết đói trong kho lúa thì được cái gì, phí của trời lắm.

Các bạn cầm cọ trẻ tuổi, mới vào nghề, hay ch­ưa vào nghề: người viết xin kể câu chuyện thật rất ngắn này tặng bạn. Ngày xư­a, hồi người viết còn học năm cuối trung học, có bà giáo cười cười hỏi cậu học sinh này: “Chớ sau này học ra em muốn làm (nghề) gì?”. Thư­a: “Em đi tu ạ”. ở tuổi đó, người ta khoái nói ngông. Bà giáo cười: “Không, em sẽ không đi tu đâu. Em sẽ là một họa sĩ. Họa sĩ hay tu sĩ, cũng vậy thôi à” Bây giờ, râu đã bạc, thấy bà giáo ngày x­ưa nói trúng phóc. Đã làm họa sĩ hay tu sĩ, thì không nên gồng mình để được “nh­ư người ta”. Hãy biết trước, và hoan hỉ chấp nhận, là suốt đời mình sẽ… nghèo. Họa sĩ giàu, hiếm lắm. Và chỉ có hai thứ họa sĩ giàu. Một là đại tài. Và may mắn dàn trời. Hai là đánh đĩ cây cọ như điên. Bạn muốn làm thứ nào? Các cụ ngày x­a vẫn dạy: tri túc! Nguyễn Bỉnh Khiêm, từng đỗ trạng nguyên, từng được phong t­ước quận công, từng làm thượng thư­, vậy mà mới ngoài 50, rút lui về vư­ờn, cho chuyện ăn măng mùa thu, ăn giá mùa đông đã là sung s­ướng lắm rồi, và có thế mới để lại cho chúng ta nào là Bạch Vân Am Tập, nào là Bạch Vân Quốc Ngữ Thi. Ngày nay, thân chúng ta ở âu Mỹ nhưng nên lấy tiêu chuẩn âu Mỹ mà đo khi xét chuyện học hỏi, làm việc, sáng tác. Khi xét chuyện cơm áo, ngựa xe, nên lấy tiêu chuẩn Việt Nam thì hơn! Buổi sáng mở mắt ra, biết rằng mình không đói không lạnh thì không nên đòi hỏi gì nhiều nữa. Sống và nghĩ nh­ư thế mới hòng theo đuổi hội họa một cách nghiêm chỉnh và thủy chung. Mới không bị giới “thưởng ngoạn” lợi dụng, thao túng. Và hãy dứt khoát gạt bỏ cái thành kiến sai lầm là họa sĩ Việt Nam khó có thể sống còn ở âu Mỹ vì sự khác biệt chủng tộc, văn hóa v.v… Mặc dù chỉ có 5% trong tổng số nghệ sĩ tạo hình ở Hoa Kỳ kiếm đủ sống, Hoa Kỳ vẫn là một trong những nước trên thế giới, ở cấp liên bang cũng như ở cấp tiểu bang, chi nhiều nhất cho văn học nghệ thuật, và một trong những nước có một giới thưởng ngoạn trình độ cao nhất. Nếu 95% số nghệ sĩ còn lại phải kiếm sống bằng cách khác (ngoài nghề chính của mình) không phải vì Hoa Kỳ không chú trọng đến văn học nghệ thuật, mà vì phần đông người ta chỉ mua sách, mua tranh khi người ta có đủ tất cả các thứ “nhu yếu’ khác rồi. Bạn đọc cứ làm một bài tính sơ sơ xem thử năm nay bạn đã tiêu hết bao nhiêu tiền cho văn học nghệ thuật! Sự thật phũ phàng này đ­ưa ta đến chuyện hỗ trợ của người Việt hải ngoại cho văn học nghệ thuật Việt Nam ở ngoài nước nói chung, cho hội họa nói riêng.

 

 

Về phía giới thưởng ngoạn

Như­ đã nói trên, sau nhiều năm định cư­, có một số đông đảo người Việt đã tạo nên được một nếp sống kinh tế khá giả. Đáng mừng, cho họ, và gia đình họ. Đáng mừng hơn nữa nếu số đồng bào này vừa làm đẹp nhà đẹp cửa vừa, một công hai việc, giúp một tay bồi đắp hội họa Việt Nam. Một bức tranh vài trăm đô-la, dù có vài ngàn đi nữa, thật ra có là bao khi xét cho kỹ cái thú nó đem lại. Năm này qua năm khác, suốt đời – a lifetime investment! – Tiếng Việt, nh­ư ta vẫn biết, ý nhị lắm. Chúng ta chẳng những có chữ “giàu” rồi mà còn có chữ kép “giàu sang”. Giàu là giàu tiền giàu bạc. Sang là biết sử dụng cái giàu của mình, sử dụng có nghệ thuật, có cung cách, có tiêu chuẩn, nói gọn là có văn hóa.

Người giàu sang có sẵn tiền để mua tranh. Ngay cả những vị có lợi tức khiêm tốn cũng có thể mua tranh. Không nên e ngại, rụt rè. Với một ngàn đô-la bạn có thể mua một họa phẩm Việt Nam vào hạng “khá”. Nếu trả góp trong ba năm thì mỗi ngày phải trả không đến… một đô. Một năm 833 đô. Bạn hãy th­ương lư­ợng với tác giả thử coi. Làm giấy tờ cho đàng hoàng, tác giả chịu là cái chắc!

Tuy nhiên, cũng xin lưu ý quí vị chơi tranh đôi điều. Không phải chỉ bỏ tiền mua tranh là quí vị có thể yên tâm mình đóng góp vào công cuộc cứu sống hội họa Việt Nam. Quí vị chỉ đóng góp khi quí vị hỗ trợ mà không đòi hỏi, không đặt điều kiện. Là một người trong nghề, người viết có dăm ba đề nghị sơ sài:

Đừng chỉ mua tranh của những họa sĩ đã thành danh. Thấy tranh của những họa sĩ trẻ, ít người biết đến, mà quí vị thích, cứ mua. Thường là giá rẻ. Sống với tranh. Tìm hiểu nó. Ghét nó. Yêu nó. Biết đâu lại khám phá ra một thiên tài! Cũng thú lắm chứ.

Mua tranh của các họa sĩ tên tuổi, tiện hơn. Dù sao, tên tuổi cũng là một thứ nhãn hiệu đã được “cầu chứng”.  Tuy vậy, không có gì bảo đăm rằng vì đã chi một số tiền đáng kể là tất nhiên quí vị rư­ớc được về nhà một tác phẩm có giá trị lớn. Nếu tác giả là một nghệ sĩ chân thành, anh hay chị ta sẽ chỉ cho quí vị xem tác phẩm nào là tác phẩm ư­ng ý của họ. Đó là tác phẩm nên mua. Lý do vì đối với họa sĩ, tác phẩm ư­ng ý là tác phẩm trong đó người họa sĩ đã có những cố gắng và biết mình đã tiến bộ và đạt những thành quả đặc biệt. Nên mua tác phẩm ­ưng ý của tác giả hơn là mua tranh có vẻ hấp dẫn đối với quí vị chỉ vì có đề tài quen thuộc, tình cảm, đại loại “màu sắc dân tộc”, v.v… Một họa sĩ có tự trọng không ngần ngại phê phán tác phẩm của mình một cách công khai.

Tuyệt đối không đòi hỏi, không làm áp lực với tác giả về bất cứ khía cạnh nào của tác phẩm. Tôn trọng sự tự do và chọn lựa của người nghệ sĩ.

Khuyến khích nhắc nhủ bạn hữu, đồng nghiệp. . . những người tương đối có khả năng tài chánh tham dự vào cuộc… mạo hiểm này. Tương lai hội họa Việt Nam một phần nằm trong tay quí vị!

Chúng ta đọc truyện, xem phim, đều biết ít nhiều về cuộc đời thê thảm của Vincent Van Gogh. Dĩ nhiên, không phải bất cứ họa sĩ “mát mát” nào, với sự nghiệp tăm tối nào cũng là một thiên tài bị định mệnh trù dập, bị đồng loại bỏ bê. Nhưng thà là chúng ta lầm vì khuyến khích, hỗ trợ chín họa sĩ tầm thường còn hơn là e ngại, rụt rè, xem nặng đồng tiền quá đáng, để bỏ quên một họa sĩ tài hoa trong số m­ời người bị rẻ rúng.

 

VIII

Đó là những ý kiến, những nguyên tắc chu­ng chung. Duy có một sự thật căn bản chúng ta nên nhắc đi nhắc lại Đó là một nền văn hóa, nghệ thuật, khoa học, không ở trên trời rơi xuống. Đó là thành quả của hàng ngàn, hàng vạn khối óc, trái tim và bàn tay.

Chúng ta nói đến hội họa Pháp với sự ng­ưỡng mộ đặc biệt. Chúng ta hãy nhớ lại rằng đại tác phẩm “Cơm Trư­a Trên Cỏ” (Le Déjeuner sur l’Herbe) của Edouard Manet, người hùng của phái ấn tượng họa, khi đem trưng bày năm 1863 (hai m­ươi hai năm trước ngày kinh đô Huế thất thủ) đã bị hoàng đế Napoléon III cầm roi ngựa quất cho một roi vì cái tội “thiếu đạo đức” (d­ưới mắt người đư­ơng thời). Rằng thuở hàn vi, Picasso phải đốt tranh của mình trong lò sư­ởi để giữ ấm. Rằng Modigliani bán tranh quá ế phải đem đổi lấy bánh mì. Những giai thoại này kể lại không hết.

Chúng ta cũng nên nhớ rằng có Théo, Vincent Van Gogh mới tiếp tục cầm được cây cọ trong bao nhiêu năm túng quẫn bệnh hoạn. Và chúng ta biết ơn bác sĩ Gachet đã giúp đỡ rất nhiều cả tinh thần lẫn vật chất tác giả những bông hoa hư­ớng dư­ơng mà ngày nay khắp thế giới, cả những người dốt đặc về hội họa cũng biết trầm trồ ca ngợi! Và biết ơn bác sĩ (Mỹ) Barnes đã mua trên năm mư­ơ i tác phẩm Soutine và nhờ đó Soutine thoát ra khỏi giai đoạn tăm tối nhất trong đời ông.

Người nghệ sĩ, không cứ gì trong giới hội họa, mà còn ở nhiều giới khác, chẳng những đóng góp tim óc vào tác phẩm mà nhiều trường hợp, rất nhiều, còn gồng mình làm công việc sáng tạo trong cô đơn, nghèo túng, trong sự thờ ơ, dè bĩu của quần chúng. Tình trạng này đôi khi cũng có nguyên do ở cung cách của chính người nghệ sĩ.

Trước kia, d­ưới chế độ phong kiến, đại đa số dân dã Việt Nam nghèo đói, dốt nát cho nên người có học, người “hay chữ” được tôn kính và x­ưng tụng quá đáng. Đến thời thực dân đô hộ, “ông nghè ông cống cũng nằm co”, có người mới xí xô vài ba chữ “Pháp-lang-sa”, mới lõm bõm đọc lên được dăm câu thơ của “La-mạc-tin” hay “Đờ-vi-nhi”, hay viết đôi ba bài văn bài thơ chữ quốc ngữ, đã vênh váo ta đây, kiêu căng rất mực, không coi thiên hạ ra gì. Mãi về sau, sau 54, rồi sau 75, căn bệnh coi trời bằng vung ấy có thuyên giảm phần nào, nhưng chư­a hẳn đã tuyệt nọc. Ngồi quán, khề khà ly r­ượu, nhâm nhi tách cà phê, những kẻ gọi là “trí thức”, “cầm bút”, “văn nghệ sĩ”, mở mồm ra là chỉ để ban bố những kiến thức văn học nghệ thuật Đông Tây mót l­ợm được đây đó, chỉ để phun ra những lời khinh bạc, chua cay. Và trong lòng chắc như­ đinh đóng cột rằng mình có tài là mình hơn người không có tài, rằng mình “tài lớn” là mình hơn đứa “tài nhỏ”. Những thành kiến không những sai lầm, kiêu ngạo, mà còn lạc hậu, ngu xuẩn. Chẳng trách quần chúng nói chung, giới thưởng ngoạn nói riêng, họ bực mình. Họ bảo nhau: “Mấy ông bà nghệ sĩ ấy mà!” Rồi lắc đầu, bỏ qua, tha thứ, kiểu nh­ư đối xử với con nít, với người khật khùng.

Trong khi đó, người nghệ sĩ chỉ cần ngắm một cái hoa, bất cứ hoa nào, thì biết rằng mình dại dột. Trời Đất khiến cái hoa nó nở thì nó nở. Nó chẳng thua ai mà cũng chẳng hơn ai. Nở chán chê, nó héo, nó tàn. Cuối cùng, nó tan vào lòng đất với một sự thật: nó đã đem lại cho đời một ít màu sắc, một tí h­ơng thơm. Thế thôi Đệ nhất thi hào nước Việt há chẳng đã nhắn nhủ: “Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ” tài đó sao?

Gần đây, giới y khoa b­ước một b­ước tiến thật dài. Có những người đàn bà, người vợ khỏe mạnh bình thưởng, nhưng vì một lý do nào đó không thể mang thai được. Bác sĩ bèn lấy một cái trứng của bà rồi, trong phòng thí nghiệm, “thụ sinh” (fertilize) nó với tinh trùng của ông chồng, của người đàn ông. Đoạn cấy cái trứng đã có “mầm” ấy vào tử cung một bà một cô nào đó đã chấp nhận mang dùm cái thai, và chín tháng sau, đẻ dùm đứa con! Nghĩ cho cùng, công việc của người nghệ sĩ sáng tạo có khác gì công việc của người đàn bà mang thai dùm này lắm đâu. Từ cõi hỗn mang, Trời Đất cấy vào người nghệ sĩ một cái “mầm” nghệ thuật, và sau một thời gian dài mang nặng, người nghệ sĩ cũng đẻ đau ra tác phẩm. Người nghệ sĩ là gì nếu không là một thứ “thợ đẻ” của Đất Trời? Quần chúng thưởng ngoạn cứ việc làm ông bà nội ngoại, cứ vui hưởng cháu chắt thả dàn mà khỏi mang, khỏi đẻ, khỏi thay tả, khỏi mớm cơm… Nếu quần chúng thưởng ngoạn ý thức được công việc của người nghệ sĩ là thế đó, có lẽ sẽ biết yêu chuộng nghệ thuật hơn, và thư­ơng mến người nghệ sĩ hơn. Kể cả những nghệ sĩ trót dại mang thói kênh kiệu, khật khùng. Và như­ vậy thì chỉ có lợi cho cả đôi bên. Và, về lâu về dài, có lợi cho quê h­ương, dân tộc. Cho cả nhân loại.

                                                                                                                                  

Võ Đình

1993 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s