Vài ghi chú về những khó khăn và thuận lợi trong việc kinh doanh nghệ thuật ở Việt Nam hiện tại

Vài ghi chú về những khó khăn và thuận lợi trong việc kinh doanh nghệ thuật ở Việt Nam hiện tại

bởi Nguyên Hưng vào ngày 11 tháng 4 2012 lúc 11:17 chiều ·

I. Những khó khăn và thuận lợi trong bối cảnh:

 

1. Khó khăn:

 

a. Thông tin về mỹ thuật Việt Nam, có thể nói, hầu như không có. Nếu có, thì cũng không hệ thống, không cập nhật, và đặc biệt là không đáng tin. Người mua tranh, ở khắp mọi nơi, đều “không biết đâu mà lần”…

 

b. Việc kinh doanh nghệ thuật bị mất uy tín. Một, là bởi tranh giả. Hai, là bởi tranh nhái. Ba, là bởi các họa sĩ vẽ lặp đi lặp lại chính mình, khiến tranh họ không còn “quý” nữa… Do đó, hầu như ai cũng ái ngại

 

c. Rất khó hợp tác với các họa sĩ Việt Nam. Tâm lý vừa cần vừa khinh “con buôn” nơi các họa sĩ là rất phổ biến. Trong khi đó, chính họ, rất ít người có đầy đủ ý thức tự giác về tính chuyên nghiệp của con người sáng tạo nơi mình-thường, vừa rất hay bảo thủ, vừa rất hay thay đổi. Thậm chí còn có cả hiện tượng “ngôn hành bất nhất”… Việc đầu tư sâu cho các họa sĩ, do đó, rất dễ trở thành phiêu lưu…

 

d. Công chúng không được giáo dục về nghệ thuật. Do đó, trình độ cảm thụ và nhu cầu về nghệ thuật ở số đông công chúng trong nước rất thấp. Họ đứng bên ngoài sự vận động của cả nền mỹ thuật và thị trường mỹ thuật Việt Nam.

 

 

2. Thuận lợi:

 

a. Thị trường tiềm năng vẫn còn rất lớn: giới sưu tập quốc tế, thực tế vẫn chưa vào, tâm lý “trưởng giả học làm sang”, và nhu cầu “nâng cấp đời sống văn hóa tinh thần” nơi tầng lớp giàu có trong nước-ngày càng đông-chưa được kích hoạt đúng mức và đúng cách… Điều này có nghĩa, cơ hội có khách hàng vẫn còn nhiều nếu biết cách vận động thích ứng…

 

b. Sự thất vọng, kể cả bất mãn với cung cách kinh doanh chụp giật, ăn xổi ở thì của đa số gallery trong nước lâu nay đã nâng cao nhu cầu và ý thức “muốn làm một cái gì đó có giá trị thực chất hơn” nơi khá đông họa sĩ nghiêm túc… Điều này có nghĩa, cơ hội hợp tác với các họa sĩ “có chất lượng” còn cao, nếu tạo được sự tin tưởng nơi họ về cách nhìn, tầm nhìn của mình…

 

c. Thông tin về mỹ thuật Việt Nam hầu như không có, hay có một cách không đáng kể…, nên, “ai có được nhiều thông tin, kẻ đó có nhiều lợi thế”…

 

d. Công chúng không được giáo dục về nghệ thuật, nhưng công chúng có “sĩ diện”, muốn “tỏ ra”…, nên, nếu biết ứng biến sẽ chinh phục được…

 

 

 

II. Bài học từ những thành công và thất bại:

 

Các nhà kinh doanh mỹ thuật ở Việt Nam đã có giai đoạn đầu khá thành công nhưng sau đó là liên tục thất bại. Điều đáng nói, là cả khi thành công lẫn khi thất bại, đa số đều mù mờ không hiểu vì sao. Lý do dễ thấy, hầu như chẳng mấy ai thực sự hiểu cái đặc thù của việc kinh doanh mỹ thuật. Đại khái:

 

 

1. Không hiều giá trị nghệ thuật và giá trị thương mại của một tác phẩm nghệ thuật là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Tranh có giá trị nghệ thuật cao chưa chắc đã bán được, tranh bán được giá cao chưa chắc đã có giá trị gì về nghệ thuật. Không hiểu, nên kiểu này kiểu khác, đa số đã chọn sai mô hình kinh doanh và phương thức tiếp thị. Một số chọn tranh “chất lượng”, tuy tên tuổi có vẻ “sang cả”, nhưng hiệu quả kinh doanh rất thấp, lại thường tiếp thị sai đối tượng (tranh “đặc tuyển” phải nhắm đến đối tượng “đặc tuyển”) nên hiệu quả kinh doanh càng thấp hơn. Không bán được tranh, quan hệ giữa họa sĩ và gallery rất dễ đổ vở-họa sĩ bất mãn, còn gallery thì “cay đắng”… Đa số chọn tranh “bán được”. Nhưng tranh “bán được” trong đa số trường hợp, chỉ là những “cái thời thượng”, chỉ có giá trị nhất thời. Nên, nếu không thường xuyên đổi mới thích ứng, thì tuổi thọ của gallery rất ngắn. Thực tế thì rất khó thay đổi. Bởi khi mọi người biết ra cái mà mình trân quý một thời chỉ là những giá trị giả tạo, thì họ cũng mất niềm tin vào những gallery đã bán cho mình những cái “gọi là nghệ thuật” đó. Lỗi thời, do đó, cũng có nghĩa là rớt hạng. Nhiều gallery “hạng sang”, sau vài năm, trở thành cái gì hết sức tạp nham là vậy. (Cũng cần phải ghi chú, là ngay cả số đông họa sĩ và không ít nhà phê bình cũng không hiểu điều này. Hậu quả là sau vài năm thị trường mỹ thuật rộn ràng, không ít họa sĩ thực sự có tài đã trở thành họa sĩ thương mại thuần túy-đồng nghĩa với tự sát ở tư cách nghệ sĩ, và, không ít nhà phê bình năng nổ đã trở thành “chiêng trống làm rộn ràng phiên chợ”-do đó, chẳng còn ai muốn nghe họ nữa…)

 

 

2. Không hiểu “tầm cở” gallery là cái tầm cở mang tính tượng trưng. Không tùy thuộc vào vị trí, qui mô cơ sở gallery, mà tùy thuộc vào “cái hình ảnh tượng trưng mà người ta biết hay tưởng tượng về nó”. “Cái hình ảnh” được làm nên bởi triết lý về nghệ thuật và kinh doanh nghệ thuật” mà nó quảng bá. Có tranh “đẹp” của các họa sĩ “nổi tiếng” là điều kiện cần nhưng không đủ để thành công trong thị trường nghệ thuật. Thực tế, đa số người mua tranh, chủ yếu mua tranh bằng “lỗ tai”, bằng những điều họ bị “huyễn hoặc” từ tin đồn, từ uy tín của một vài nhà phê bình nào đó, từ sự giật dây của các curator v.v…, chứ hiếm khi từ cái nhìn riêng. Trên thị trường, danh tiếng “có con mắt xanh” là một loại quyền lực. Không hiểu điều này, đa số gallery trong nước, chỉ tự tô vẽ mình như một cửa hàng bán lẻ thuần túy. Và khi ở đó bày tranh pháo “thượng vàng hạ cám” thì cơ ngơi dẫu sang trọng cũng chỉ bị xem là một thứ gallery bình dân hợm hĩnh mà thôi… Thử nhìn lại xem, bề thế như Vietnam Fine Arts Gallery mà vẫn bị xem là “hàng chợ”, trong khi đó, Trần Hậu Tuấn, chỉ với tư cách nhà sưu tập thôi là đã buôn bán tranh “thỏa mái”… (Cần lưu ý thêm, khi không hiểu điều này, các gallery sẽ không biết nuôi lực lượng phê bình. Không hiểu, muốn lợi dụng ngay phê bình, nhất là khi lực lượng phê bình vì miếng cơm manh áo thỏa hiệp…, họ đã đẩy không chỉ thị trường mà cả nền mỹ thuật Việt Nam vào chổ lụn bại…)

 

 

3. Không hiểu tầm ảnh hưởng của mặt bằng văn hóa mỹ thuật đến thị trường mỹ thuật như thế nào, nên không ý thức được những khó khăn và thuận lợi trong bối cảnh như đã nói ở trên, và do đó, không thể nghĩ ra được một mô hình kinh doanh thích ứng nào cả. Thành công hay thất bại thì cũng cúng kiếng, cũng đi nghe lời… thầy bói!

 

 

 

III. Mô hình thích ứng:

 

Từ sự phân tích những khó khăn/thuận lợi trong bối cảnh, những thành công/thất bại của các gallery ở trong nước lâu nay, và dựa trên sự hiểu biết về các đặc thù của việc kinh doanh nghệ thuật, có thể rút ra mấy nguyên tắc chính cho một mô hình thích ứng sau:

 

 

1. Phải tự biến mình trở thành một đầu mối thông tin hệ thống (thường xuyên cập nhật) và đáng tin cậy về mỹ thuật Việt Nam. Và, phải làm cho mọi người biết về điều này, khiến cho bất cứ ai chớm có ý định mua tác phẩm mỹ thuật cũng phải tìm đến. Nên nhớ, nhu cầu thông tin về mỹ thuật và thị trường mỹ thuật Việt Nam nơi công chúng nói chung và người mua tranh nói riêng là có thật. Ai có khả năng cung cấp thông tin đáng tin cậy thì kẻ ấy có khả năng thu hút được công chúng và người mua tranh nhiều hơn. (Sự nhập nhòa của bối cảnh hiện tại là cơ hội tốt cho những ai có ý thức và “nhanh chân”. Hơn nữa, đây là việc không quá khó. Cần phải biết khai thác sức mạnh và tầm phổ biến của phương tiện thông tin liên mạng…)…

 

 

2. Phải tạo ra được cho mình một hình ảnh “chuyên nghiệp” có giá trị tượng trưng “cao cấp” về văn hóa, đáng được tin cậy và ngưỡng mộ. Hình ảnh này, trước hết, thể hiện qua các “triết lý về nghệ thuật và kinh doanh nghệ thuật”-cần tách bạch cái “đặc tuyển” với cái “mang tính cộng đồng”, không bán buôn “thượng vàng hạ cám”, gallery phải là “đền thờ” của “nghệ thuật thuần túy”, còn nhắm đến cộng đồng, phải thông qua các dự án, các chương trình “trọn gói” cụ thể, và phải công khai điều này. Tiếp theo, phải tập hợp được quanh mình những “tên tuổi sáng giá” (các họa sĩ, các nhà phê bình, các giáo sư, các nhà tài trợ v.v…). Phải thể hiện mình có “con mắt xanh”. Một gallery muốn tồn tại lâu dài, cơ bản hơn hết, vẫn cần có những tác phẩm “đẹp” của các họa sĩ tài năng…  Cuối cùng, là qua hoạt động thực tiễn. Đặc biệt lưu ý về các ý nghĩa văn hóa xã hội. Nên nhớ, một nhà buôn tranh thành công thì cũng chỉ là một nhà buôn, đừng hy vọng ai “biết ơn” hay nhìn nhận như “một nhà văn hóa”. Trên thế giới, những nhà buôn tranh “cao thủ” đều thể hiện như những nhà văn hóa, và qua các hoạt động thích ứng, thực tế, họ thu lợi rất cao.

 

 

3. Phải có chiến lược khách hàng rõ ràng và chủ động “tấn công”: một, có kế hoạch thu thập thông tin về khách hàng tiềm năng; hai, có kế hoạch chủ động tiếp cận; ba, không ngừng sáng tạo ra những chiêu thức truyền thông độc đáo “tấn công” liên tục; bốn, có kế hoạch nắm lấy và tạo ra một môi trường tương tác đa chiều với khách hàng tiềm năng và thực tế…

 

 

4. Phải tập hợp được một lực lượng họa sĩ “đặc tuyển”, có tác phẩm tốt. Và, phải có chiến lược phát triển “thương hiệu” cho từng người. Cần lưu ý, danh tiếng của họa sĩ, là một trong những yếu tố quyết định hình ảnh và uy tín của một đơn vị kinh doanh nghệ thuật. Và cần đặc biệt lưu ý, việc bảo vệ tính độc lập sang tạo của các họa sĩ chính là kế sách tồn tại lâu dài của một đơn vị kinh doanh nghệ thuật…

 

 

5. Phải tạo ra được một bộ máy nhân sự-không cần đông nhưng tinh-giàu năng lực sáng tạo, quảng giao và có khả năng liên kết với các thành phần “hạt nhân” trong thị trường tiềm năng. Biết cách kích thích nhu cầu và tạo sự hiểu biết về nghệ thuật…-thông qua việc gợi ý hoặc xây dựng các dự án nghệ thuật cụ thể…

 

 

6. Gallery phải là một trung tâm giao tiếp nghệ thuật thực sự…

 

 

 

 

Nguyên Hưng

(Trích phần đầu một dự án kinh doanh nghệ thuật viết cho một người bạn ở Hà Nội năm 2006)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s