VIỆT NGỮ THƯ PHÁP SƠ LUẬN

 Định nghĩa:
Thư pháp Việt là một lọai hình nghệ thuật biểu đạt cảm xúc thông qua các ký tự Latinh với phương tiện cọ lông và mực Tầu.  Vì thế vẽ đẹp của một bức thư pháp là vẽ đẹp cảm xúc thông qua phức hợp các thành tố bố cục, màu sắc, hình họa, họa tiết và nhất là hình dáng các ký tự chứ không phải là viết chữ đẹp vậy.

Văn phòng tứ bảo:

Bút:
Bút dành cho thư pháp chính là bút lông tàu để vẽ thủy mặc. chọn bút phải vừa tay Không nhất thiết phải đắt tiền, vì mỗi loại cọ đều có những đường nét đặc trưng riêng của nó, quan trọng là có điều khiển để phát huy được tinh hoa hay không? Tốt nhất nên chọn các loại cọ tàu có ngòi được làm bằng lông thú, lông càng dài thì càng khó viết, nhưng lại mau thành công.

Mực :
Mực chuẩn cho thư pháp là mực nho. Hiện có lọai pha sẳnrất tiện dụng.

Giấy:
Giấy cho thư pháp phải là giấy bản để đảm bảo tính hút mực tốt. Tất cả các nguyên liệu chủ yếu để làm giấy đều lấy từ sợi thực vật như tre, gỗ. Sợi từ tre tính cứng, lúc làm ra giấy thường ít hút mực; sợi từ gỗ tính mềm, lúc tạo ra giấy hút mực rất mạnh. Các lọai giấy thịnh hành việt thư pháp là :
– Giấy Dó Việt Nam: được làm từ sợi cây Dó , màu ngà vàng, độ hút mực tùy theo độ dày của giấy, giữ được khoảng vài trăm năm. Giấy Dó hiện không có các khổ giấy cần thiết cho Thư pháp, mẫu mã cũng không đa dạng.
Tuyên Chỉ  (hay Xuyến Chỉ ) làm từ gỗ dâu, rạ và vỏ cây Đàn Mộc ngâm tro, vì vậy giấy hút mực rất nhiều. Dùng giấy này, nếu viết quá chậm, mực sẽ loang mạnh tuy nhiên có nhiều thư pháp gia lợi dụng được điểm này, viết ra nhiều tác phẩm mang phong vị. Hiện nay, độ hút mực của giấy Tuyên đã được giảm bớt tiện cho người viết hơn. Ngoài ra, ViệtNam hiện nay còn thịnh hành viết loại giấy Điệp , giấy mỹ thuật đã xử lý và giấy bản để tập viết

Nghiên:
vừa là vật chứa mực vừa là vật mài mực. Hiện nay do dùng mực nho pha sẳn nên có thể dùng bất cứ vật chứa nào.

CÁCH CẦM CỌ

Người Trung Quốc khi viết họ không chạm tay vào giấy hoặc mặt bàn (kiểu gân), nhưng đối với chữ Việt chúng ta lại quen với cách viết chạm tay vào giấy (kiểu nhục). Vậy người luyện cứ chọn cho mình một cách viết thật thoải mái chỉ cần lưu ý 3 điều sau :

  • Bàn tay ít chạm vào mặt giấy bao nhiêu, giảm độ ma sát bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu
  • Ngọn bút phải luônvuông góc với mặt phắng của giấy. Góc nghiêng tối đa là 30o
  • Bụng cánh tay luôn quay xuống

Có ba cách cầm cọ thường gặp: ĐIỂM THỦ: người viết chống một ngón tay út chạm vào mặt giấy lấy điểm tựa. TÌ THỦ: cạnh bàn tay tiếp xúc với mặt giấy như cách viết chữ bình thường BỔNG THỦ: tay nhấc bổng lên theo lối thư pháp Hán. Cách cầm cọ: Điều khiển cọ ở tư thế thẳng đứng so với mặt giấy, giữ cọ bằng đầu ba ngón tay (ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa) chọn tư thế ngồi thoải mái, giữ cho đầu thẳng lưng thẳng để tránh những tác hại cho xương  về sau, khi ngồi viết hàng giờ. Và bây giờ Người luyện cần hiểu công việc của mình sắp làm, đó là tập luyện cho đến khi người luyện có thể điều khiển được cây cọ mình đang sử dụng một cách nhuần nhuyễn. Những bước đầu tiên thường  rất quan trọng. Hãy tạo cho mình có những thói quen và một nết viết ổn định như một phản xạ tự nhiên có thể tự cân bằng bằng tiềm thức.   Người luyện cứ tập những đường ngang sao cho thật mảnh và nhuần nhuyễn rồi tiếp tục tập những đường kéo dọc xuống.

 

Nếu cảm thấy ổn , Người luyện  bắt đầu vào một nét ngang căn bản với khởi bút, hành bút và thu bút tuy công việc đơn giản như vậy cũng không đơn giản chút nào, cứ từ từ tập cho đến khi nào đạt. Và cũng như vậy người luyện tâp nét sổ dọc.  

  Có những điểm người học thư pháp phải cảm thụ tốt thì mới tiến bộ được

  1. Độ khinh trọng :Độ dày và mỏng, đậm hay nhạt tùy thuộc vào việc nhấn mạnh hay nhấc lên của tay mình. Lực này tự người luyện cảm nhận thông qua đối chiếu và so sánh.
  2. Tốc độ viết : sẽ tạo ra nét xướt hay độ đậm nhạt.
  3. Dung lượng mực: sau khi chấm mực, người viết thường hay vuốt cọ,để ước lượng dung lượng mực trong cọ thông qua lượng mực ứa ra sao cho vừa đủ không nhiều quá cũng như không ít quá, để tạo ra những đường sướt (phi bạch) những nét đặc trưng của thư pháp.
  4. Hình dáng cọ khi đang viết:  phải được chú ý suốt quá trình viết để tạo ra nét vừa ý

Chỉ cần tập nhiều thì người luyện sẽ có kinh nghiệm, để điều chỉnh Khi nhuần nhuyễn được nét ngang và dọc thì bắt đầu tập thêm những nét vạch, nét phẩy: nhấn cọ xuống mặt giấy sau đó kéo ngang tự do, và nếu được Người luyện cứ tập nét này theo nhiều hướng khác nhau đến khi nhuần nhuyễn để phục vụ cho công việc sáng tạo của Người luyện sau này.

Đặc điểm của chữ Việt là có rất nhiều nét cong hầu như có ở mỗi chữ, cho nên rất quan trọng để thực hành và tìm tòi sáng tạo trong những nét này.

Một số kỹ thuật lưu ý: Ức (nhấn mạnh xuống), Đốn (dè dặt), Tỏa ( sổ hạ xuống), Trì ( viết nét chậm lại), Tốc (viết nhanh), Hòan ( thả lại, hồi đầu), Khẩn (vung bút đột ngột), Khinh ( nhẹ nhàng lã lướt bay bỗng), Trọng ( nhấn điểm xuyến). Cũng cần nói thêm NÉT XƯỚT:

là những khỏang trống trong một nét chữ được tạo ra từ những sớ cọ. có hai lọai nét xướt: nét xướt ngọn và nét xướt bụng.   .Nét xướt ngọn được tạo ra khi kéo ngang bằng ngọn bút và ngọn cọ được tách ra rõ ràng tạo nên nét xướt cũng rõ nét. .Nét xướt bụng khi nét kéo ngang bằng bụng của ngọn bút . Sau khi hoàn tất công việc trên, tức người luyện đã có thể điều khiển được cây cọ của mình theo ý muốn. Người luyện có thể bắt đầu ráp nối những đường nét của mình trở thành những con chữ có ý nghĩa. Ban đầu có thể sẽ rất vụng về nhưng không sao cả. Dưới đây là một số chữ cái mẫu kỹ thuật để người luyện tham khảo. Nhưng nên nhớ, muốn thành công thì phải tự tìm tòi và sáng tạo cho mình một phong cách , một nét chữ riêng biệt. Điểm lưu ý khi tạo ra mẫu tự là mẫu tự được tạo phải có nét dừng mở để có thể nối tiếp với mẫu tự thứ hai mà không gây lọan bố cục.

mẫu chữ và dấu

mẫu chữ và dấu

Bố cục mẫu tự để tạo ra chữ
Khi viết cần tập trung tư tưởng đừng để bị chi phối bởi những tạp niệm . Khi đã hoàn thiện được những chữ cái căn bản thì hãy bắt đầu tập viết những chữ đơn tự đơn giản, rồi hai chữ, rồi một câu thơ….   Phần khó nhất là người luyện phải tập sắp xếp bố cục hoàn chỉnh. Bố cục mẫu tự to nhỏ cao thấp để tạo ra từ. Bố cục các từ để tạo ra câu. Bố cục các câu kết hợp với họa, ấn chương, đề từ, lạc khỏan để tạo ra một bức tranh thư pháp. Điều này phụ thuộc năng khiếu và khà năng quan sát học hỏi của người luyện.

Như đã nói thư pháp là một bức tranh biểu cảm thông qua nhiều thành tố trong đó có các ký tự . Vì vậy, các mẫu tự phải được chọn lọc và sắp xếp sao cho đạt được cảm xúc cần biểu đạt và hài hòa với các thành tố. Cụ thể là quan tâm đến những điều sau :

  • Tỷ lệ của các ký tự trong một từ thông qua độ rộng-hẹp, cao-thấp,
  • Vị trí các ký tự trong từ : cao -thấp, lên-xuống, trái phải, xa gần thậm chí lồng ghép vào nhau.
  • Hình dáng ký tự : nét to –nhỏ, nét mềm mại – mạnh mẻ, dứt khóat –thận trọng.

( xem minh họa )

 
Lối viết mạnh mẽ rắn chắc các nét được viết to, mạnh nhưng mềm mại tinh tế ở phần dấu. Các nét chữ được viết mảnh mai, uốn lượn nhưng không thiếu những nét phất quả cảm và chính xác.

Các thể chữ trong thư pháp Việt hiện chưa được thống nhất cho nên người luyện có thể tham khảo các thể chữ sau :

Dị thể và phong thể hòan tòan có thể tạo ra xu hướng hay trường phái mà nơi đó các con chữ hòan tòan không còn để đọc nữa mà vẫn biểu đạt các cảm xúc. Một chữ tâm của người mẹ sẽ bao dung , ôm ấp nâng niu. Chữ Tâm của Phật từ bi an lạc. Chữ tâm của người đi tìm chân lý khúc khuỷu, cuồn cuộn, trăn trở có khi như hụt hẩn. Đó mới thực sự là định hướng luyện chữ vậy.

Bố cục các từ để tạo các câu:

Khi thưởng lãm một tác phẩm trước khi xét về đường nét và nội dung thì điểm đặc biệt thu hút là ở phần design, họa, màu sắc và bố cục tác phẩm. Bố cục thư pháp Việt không bắt buộc trình bày từng chữ từ trên xuống và từng cột như thư pháp Hán, ngọai trừ viết theo dạng đối. một tác phẩm viết tràn lan đại hải không ý tứ thì không được xem là một bố cục đẹp. Các chữ viết không được quá khít và cũng đừng quá thưa thớt lõng lẽo. nét này phải tương quan và bổ xung cho nét kia tránh trùng lập lên nhau gây khó đọc. Các chữ thường liên kết với nhau và tạo thành những khối có kết cấu  và đảm bảo biểu đạt tốt cảm xúc chủ đạo và xuyên suốt tác phẩm. Khỏang trắng trong tranh có một giá trị mỹ cảm và triết lý sống của người phương Đông. Triết lý đó là : Vạn vật đều là một phần bé nhỏ trước vũ trụ mênh mông. Vì thế , viêc chọn tỷ lệ khỏang trắng bao nhiêu cũng là một sự cân nhắc. Thông thường tỷ lệ này không nhỏ hơn 40%.

Các bố cục thường thấy :

Qua minh họa, bố cục câu chữ phải đươc chọn hài hòa với màu sắc , hình họa, họa tiết, và cả với vị trí các con triện sao cho biểu đạt thành công cảm xúc chủ đạo. Vậy

  Lần nữa xin nhắc lại Người luyện, những nhà thư pháp gia lỗi lạc muốn thành công cũng tốn hàng chục năm nên hãy luyện cho mình một chữ nhẫn và viết cho mình một chữ tâm người luyện nhé. Chúc luyện thành công.
MacVan (www.thachthuxa.com)

tuantudo biên tập.
(hình  ảnh minh họa lấy từ  sách Hồn Chữ Việt – Đăng Học và các hình ảnh của các tác giả Lưu Thanh Hải, Trụ Vũ, Thanh Sơn, Mỹ Lý, Thiện Niệm và các tác giả khác (tuantudo không biết tên))

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s